Soạn bài thuốc của Lỗ Tấn

Loading...

Soạn bài thuốc của Lỗ Tấn – Bài số 1

I. Tóm tắt truyện ngắn Thuốc

– Một đêm thu gần về sáng, theo lời bác Cả Khang, lão Hoa trở dậy đi đến pháp trường để mua "thuốc" chữa bệnh cho thằng Thuyên – con trai lão, đang bị mắc bệnh lao. Bị chém hôm đó ở pháp trường là Hạ Du, một người làm cách mạng, do bị cụ Ba tố giác cháu với chính quyền để kiếm hai mươi lạng bạc mà bị bắt và hành hình. Nghe mọi người kể lại trong quán trà của gia đình lão Hoa, vào trong ngục, Hạ Du vẫn không sợ chết, còn dám cả gan rủ cả lão Nghĩa "làm giặc". Mặc dù được chữa bằng bánh bao tẩm máu người nhưng cuối cùng thằng Thuyên vẫn không khỏi.

– Một buổi sớm mùa xuân, trong tiết thanh minh, tại nghĩa địa mẹ của Thuyên và mẹ của Hạ Du đều đến thăm mộ con. Hai người rất ngạc nhiên, băn khoăn tự hỏi "Thế này là thế nào?" khi nhìn thấy một vòng hoa đặt trên mộ người cách mạng. Bà mẹ của Thuyên đã bước qua con đường mòn cố hữu ngăn cách giữa nghĩa địa của người chết nghèo và nghĩa địa của người chết chém hoặc chết tù để sang an ủi mẹ Hạ Du.

II. Ý nghĩa nhan đề "Thuốc" và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người

Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược). Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao. Nhan đề này có nhiều nghĩa.

– Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh: chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ.

– Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn: đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác.Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được "ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ".

– Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người: là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ . Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước,cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng.

Câu 1: Hình tượng chiếc bánh bao

– Nghĩa thực: là một phương thuốc chữa bệnh => độc hại, gợi liên tưởng đến việc người ăn thịt người.

=> chiếc bánh bao là biểu tượng cho sự u mê, tăm tối và mê tín, dị đoan của những người Trung Quốc giai đoạn đó.

Loading...

Câu 2: Hình tượng Hạ Du

– Hạ du là một người chiến sĩ cách mạng nhưng khi trong tù ngục Hạ Du được coi như một kẻ điên không ai biết đến hắn hoặc biết đến thì cũng không biết hắn con nhà ai.. Một người anh hùng đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng nhưng khi ra đến pháp trường hắn chỉ là một con người rất tầm thường, và cái chết của Hạ Du vẫn không làm cho căn bệnh u mê của người dân bị tiêu giảm. Họ vẫn tin rằng con của Lão Hoa Thuyên ăn chiếc bánh bao có tẩm máu của người cách mạng sẽ khỏi bệnh những rồi bệnh tật cũng không khỏi, một căn bệnh thật khó chữa và nan y ở trung quốc lúc biến những người dân nơi đây thành những kẻ mê muội và lầm than.

=> Bi kịch của người làm cách mạnh: xa rời quần chúng, quần chúng u mê, tăm tối, chưa giác ngộ (bị chú ruột tố giác, mẹ xấu hổ, đao phủ dùng máu trục lợi, bị miệt thị …)

Lỗ Tấn vừa nhắc nhở, vừa nghiêm khắc phê bình những người làm cách mạng xa rời quần chúng,không làm được công tác dân vận, giác ngộ tư tưởng cho nhân dân.

Câu 3: Quan hệ giữa cái chết và nội dung ý nghĩa toát ra từ nghệ thuật chơi chữ của nhà văn.

– Thời gian: mùa thu trảm quyết => mùa xuân năm sau.

=> Ý nghĩa: thể hiện mạch suy tư lạc quan, tin tưởng của tác giả.

– Hình ảnh vòng hoa:

+ Thể hiện tấm lòng ưu ái của Lỗ Tấn đối với cuộc đời, sự nghiệp, sự hi sinh của Hạ Du.

+ Thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của cách mạng Trung Quốc: có người đã thấu hiểu cho họ.

+ Thể hiện dấu hiệu tốt lành: khẳng định sẽ có những người tiếp tục làm cách mạng, tiếp bước Hạ Du.

+ Là chi tiết nghệ thuật độc đáo, thể hiện chủ để tư tưởng tác phẩm, mang nhiều ý nghĩa biểu tượng => đối lập hẳn với hình ảnh chiếc bánh bao: nó thể hiện tấm lòng nhân ái, nỗi niềm trăn trở và nhiềm tin son sắt của Lỗ Tấn vào tiền đồ Cách mạng.

– Hình tượng con đường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm của Lỗ Tấn. Nó trở thành hình tượng ẩn dụ thể hiện mối quan tâm đặc biệt của nhà văn về vận mệnh của quốc gia. Trong tác phẩm này, nó mang nhiều ý nghĩa.

=> Con đường mòn tượng trưng cho tập quán xấu, nếp nghĩ cũ. Và đây là con đường đã cũ không thể đưa Trung Hoa đi đến tương lai. Do đó cần phá bỏ con đường, xóa bỏ ranh giới ngăn cách của lòng người.

Trung Hoa cần phải tìm ra con đường mới. Lỗ Tấn nói: Đường là cái gì? Chính là chỗ chưa có đường đi mà ra, từ chỗ chỉ có gai góc mở ra. Nhà thơ Tây Ban Nha là An-tô-ni-ô Ma-ca-đô cũng nói: Đầu tiên nào có đường! Cứ đi sẽ thành đường.

– Mẹ Hạ Du viếng mộ nhưng xấu hổ không dám bước, sau đánh liều bước tới nấm mộ bên trái => Chứng tỏ bà chưa hiểu con.

Nhưng khi nhìn thấy hoa trên mộ thì bà khóc than: Oan con lắm, Du ơi! => Bà mẹ đã bắt đầu hiểu.

– Mẹ Hoa Thuyên động lòng trắc ẩn đứng dậy, niềm đồng cảm của người mẹ mất con thúc đẩy bà bước qua bên kia đường mòn => lòng người sẽ không còn cô đơn chia cắt, trong quần chúng đã bắt đầu có sự đồng cảm và nhận thức về thế giới xung quanh.

– Cuối cùng là câu hỏi: Thế này là thế nào nhỉ? Hứa hẹn sẽ có câu trả lời, sẽ có sự giác ngộ trong quần chúng.

– Vòng hoa trên mộ Hạ Du => đã có người hiểu Hạ Du, đã có quần chúng được giác ngộ và tiếp bước theo con đường của Hạ Du, con đường cách mạng sẽ lạc quan. Vòng hoa cũng là tấm lòng tri ân kính cẩn của nhà văn đối với các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc.

Soạn bài thuốc của Lỗ Tấn – Bài số 2

“Thuốc” của nhà văn Lỗ Tấn là một tác phẩm hay và độc đáo. Ở  tác phẩm này có rất nhiều nội dung quan trọng như những chi tiết, những hình ảnh mang nhiều ý nghĩa, chính vì vậy mà  để cho các em có một tiết học trên lớp hiệu quả thì bài soạn văn sau đây sẽ giúp các em chuẩn bị bài học.

Câu 1.

Mua bánh: Một buổi sáng mùa thu, lão Hoa Thuyên cầm nắm bạc dành dụm bấy lâu nay đi mua thuốc.

  • Ngã ba Cổ… Đình Khẩu: không gian pháp trường, thời gian trước bình minh – khoảng năm giờ sáng. Những chi tiết được miêu tả như sau:

– Trời còn tối và lạnh. Mọi người còn ngủ say!

– Những người đi trên đường ánh mắt cú vọ ngời lên như người đói lâu ngày.

– Bao nhiêu người kì dị, đi lại như bóng ma. – Tiếng bước chân, tiếng xô đẩy ào ào vì nhiều người tranh mua bánh.

– > Khung cảnh âm thầm ma quái rung rợn, giống như chuẩn bị ăn thịt người. – Một người quần áo đen ngòm, mắt sắc như lưỡi dao

-> Hình ảnh đao phủ quái đản, có dáng dấp thần chết.

– Tay hắn cầm chiếc bánh bao nhuốm máu đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt, từng giọt. Lão Hoa Thuyên sợ, không dám cầm -> tên đao phủ trao chiếc bánh là trao cái chết nhưng lão Hoa Thuyên nhận nó đầy mừng rỡ và hi vọng.

– > Cách xử tử và cảnh người đi mua bánh là một không gian mê muội thứ nhất. – Cuối cùng cũng mua được bánh

– > lão Hoa Thuyên sung sướng tin tưởng.

  1. Ăn bánh – Bánh nướng lên trong quán trà với mùa thơm quái đản. – Hoa Thuyên ăn bánh theo quán tính.

– > Hoa Thuyên là bệnh nhân sinh lí.

– > Ông bà Hoa Thuyên thương con, nhưng quá mê muội. Họ đang bị bệnh tinh thần, u mê về khoa học, bệnh mê tín dị đoạn. Căn bệnh thâm canh cố đế, kết đọng từ sự ngu muội truyền kiếp.

Sơ kết: cả gia đình đang bị bệnh. Họ đang ăn thịt, uống máu đồng loại mà không biết nên vừa đáng tôi, vừa đáng thương.

Bánh bao tẩm máu Hạ Du – người bị hành hình lúc tờ mờ sáng. Hạ Du là ai?

 Câu 2. Hình tượng Hạ Du.

– Khi ngồi tù, Hạ Du kiên trì tuyên truyền: thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta

– > Đây là người chiến sĩ cách mạng có lập trường kiên định, lí tưởng chiến đấu rõ ràng, vì nhân dân Trung Hoa nghèo khổ. Tâm hồn chiến sĩ ấy thật cao cả.

– Ra pháp trường, Hạ Du bị biến thành trò “thị chúng” tầm thường vô nghĩa, sự hi sinh cao thưởng của Hạ Du bị biến thành trò cười, để nhiều người hưởng lợi. Thật đau xót và mỉa mai.

– Dư luận của quần chúng trước cái chết của Hạ Du:

+ Là tên tội phạm không biết con nhà ai.

+ Thằng quỷ sứ, thằng nhãi con, thằng khốn nạn, thằng giặc.

+ Thằng điên (phép điệp có ý nghĩa nhấn mạnh)

– > Dân chúng ngơ ngác, không ai hiểu Hạ Du, họ chỉ biết lí giải là Hạ Du điên. Họ cũng tin tưởng rằng, thằng Thuyên ăn bánh sẽ lành bệnh. Quán trà là không gian mê muội thứ hai.

– Gia đình Hạ Du + Cụ Ba bán đứng đứa cháu, được hai mươi lạng bạc trắng xóa. Mọi người trong quán đề khen cụ Ba khôn.

+ Người mẹ thăm mộ con thì xấu hổ.

– > Người thân trong nhà không ai hiểu Hạ Du.

= > Bi kịch của Hạ Du (Hạ Du >< đại chúng) Hạ Du chiến đấu cho quần chúng nhưng quần chúng xem Hạ Du là giặc. Nhân dân đáng thương còn Hạ Du thì đáng trách. Hạ Du là người chiến sĩ cô đơn, một người giác ngộ sớm, là người hùng thức dậy trước bình minh. Anh trở thành hình tượng điên nên không ai thấu hiểu. Từ đó tác giả vạch ra căn bệnh mê muội không hiểu cách mạng của quần chúng, căn bệnh xa rời quần chúng của những người cách mạng như Hạ Du. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Hạ Du bằng bút pháp “hư tả” – nhân vật xuất hiện thông qua nhân vật khác.

Câu 3. Quan hệ giữa cái chết và nội dung ý nghĩa toát ra từ nghệ thuật chơi chữ của nhà văn.

– Hoa Thuyên chết vì bệnh nan y và sự lạc hậu về khoa học.

– Hạ Du chết vì bệnh tinh thần mù quáng của nhân dân.

– > Lời cảnh tỉnh về những căn bệnh của xã hội Trung Hoa đương thời.

– Thuyên nghĩa là lành bệnh nhưng lại chết.

– Du là ngọc đẹp, ngọc quý nhưng lại bị chôn vùi.

– > Sự vô lí do đâu? Vì những căn bệnh mê muội trên.

– Hoa Thuyền là Hoa lành – Hạ Du là Hạ Quý

– > Những đứa con trai duy nhất của hai gia đình Hoa – Hạ, là tương là hi vọng của gia đình và đất nước Trung Hoa nhưng vì bệnh tật mà chỉ còn lại nấm mồ.

Cái tên Hoa – Hạ là tên gọi của đất nước Trung Hoa thời cổ (người Trung hoa tự hào mình là người Hoa Hạ) vậy thì hai cái chết ấy cho thấy Trung Hoa sẽ mất hết tương lai. Đó còn được coi là lời cảnh tỉnh, một tiếng kêu cứu. Mùa thu có hai cái chết như hai hạt ngọc bị sự ngu muội chôn vùi để mùa đông cùng thao thức chuẩn bị cho một mùa xuân nối kết vòng hoa đồng cảm hiểu biết, để cùng hi vọng một tương lai cách mạng tươi sáng. Đây là một lối viết, nghệ thuật thể hiện ngắn gọn, hàm súc, trí tuệ sâu sắc.

 Câu 4. Cảnh viếng mộ của hai người mẹ vào mùa xuân năm sau.

– Nghĩa địa ngoại thành phía Tây chi làm hai phần bởi con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo.

+ Bên phải, chôn người chết đúng lẽ phải, có một Hoa Thuyên.

+ Bên trái, chôn người chết do sai trái, có mộ Hạ Du.

– > So với mùa thu trước, xã hội Trung Quốc còn phẳng lặng chưa có thay đổi gì, quần chúng chưa biết làm cách mạng.

– Mộ khít dày như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ, lại bánh bao, sẽ còn nhiều người chết vì bánh bao – nghĩa là vì ngu muội, để vun đắp cho hạnh phúc cho bọn nhà giàu (phép chiếu ứng nội tại trong nghệ thuật kết cấu của văn chương Trung Hoa). Bọn nhà giàu (như lão Nghĩa mắt cá chép) sẽ được hưởng lợi bởi sự ngu dốt của người nghèo.

– Có thể dễn nhận thấy hình tượng con đường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm của Lỗ Tấn. Nó trở đã trở thành hình tượng ẩn dụ thể hiện mối quan tâm đặc biệt của nhà văn về vận mệnh của quốc gia. Trong tác phẩm này, nó mang nhiều ý nghĩa.

– > Con đường mòn chính là hình ảnh tượng trưng cho tập quán xấu, nếp nghĩ cũ. Và đây cũng là con đường đã cũ không thể đưa Trung Hoa đi đến tương lai. Do đó cần phá bỏ con đường đó đi, xóa bỏ ranh giới ngăn cách của lòng người. Trung Hoa cần phải tìm ra con đường mới. Lỗ Tấn từng nói ‘Đường là cái gì? Chính là chỗ chưa có đường đi mà ra, từ chỗ chỉ có gai góc mở ra. Nhà thơ Tây Ban Nha là An-tô-ni-ô Ma-ca-đô cũng phát ngôn “Đầu tiên nào có đường! Cứ đi sẽ thành đường”.

– Mẹ của người chiến sĩ Hạ Du viếng mộ nhưng xấu hổ không dám bước, sau đánh liều bước tới nấm mộ bên trái

– > Chi tiết này chứng tỏ bà chưa hiểu con. Nhưng khi nhìn thấy hoa trên mộ thì bà khóc than thốt thành lời  “Oan con lắm, Du ơi!”

– > Bà mẹ đã bắt đầu hiểu.

– Mẹ Hoa Thuyên lúc này cũng đã động lòng trắc ẩn đứng dậy, niềm đồng cảm của người mẹ mất con thúc đẩy bà bước qua bên kia đường mòn

-> lòng người sẽ không còn cô đơn chia cắt nưa, và có thể nhận thấy trong quần chúng đã bắt đầu có sự đồng cảm và nhận thức về thế giới xung quanh.

– Cuối cùng là câu hỏi: Thế này là thế nào nhỉ? Hứa hẹn sẽ có câu trả lời, sẽ có sự giác ngộ trong quần chúng.

– Vòng hoa trên mộ Hạ Du mang rất nhiều ý nghĩa, thông điệp mà nhà văn gửi gắm vào đó

– > Vòng hoa được đặt trên mộ của Hạ Du chứng tỏ đã có người hiểu Hạ Du, đã có quần chúng được giác ngộ và tiếp bước theo con đường của Hạ Du, con đường cách mạng sẽ lạc quan hơn bao giờ hết. Vòng hoa cũng là tấm lòng thành tri ân kính cẩn của nhà văn đối với các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc.

 Câu 5. Ý nghĩa nhan đề Thuốc

– Nghĩa đen: Truyện “Thuốc” đã đề cập và nhắc đến món thuốc quái đản: bánh bao tẩm máu người để trị bệnh lao (cũng như tất cả các bệnh khác).

– Nghĩa bóng: Qua việc sử dụng bài thuốc mê tín đó, Lỗ Tấn như muốn vạch ra những căn bệnh tinh thần của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, cần có phương pháp, bài thuốc chữa chạy ngay.

+ Căn bệnh u mê về khoa học, bệnh mê tín dị đoan.

+ Căn bệnh mê muội về chính trị của quần chúng.

+ Căn bệnh xa rời quần chúng của những người làm cách mạng. Nhà cách mạng Tôn Trung Sơn nói: Xã hội Trung Quốc là con bệnh trầm trọng. Cần chữa trị nhưng phương thuốc ấy ở đâu? Trung Quốc đang đi tìm.

Soạn bài thuốc của Lỗ Tấn – Bài số 3

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Tác giả

Lỗ Tấn (1881 – 1936) tên khai sinh là Chương Thọ, sau đổi thành Chu Thụ Nhân, là nhà văn cách mạng Trung Quốc. Bóng dáng của ông bao trùm cả văn đàn Trung Quốc thế kỉ XX. Nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng Quách Mạt Nhược từng nói: “Trước Lỗ Tấn, chưa hề có Lỗ Tấn, sau Lỗ Tấn, có vô vàn Lỗ Tấn”.

– Năm 13 tuổi, chứng kiến cảnh người cha lâm bệnh nặng, không có thuốc chữa mà chết, ông ôm ấp nguyện vọng học làm nghề thuốc.

– Đang học ở trường Cao đẳng Y khoa Tiên Đài thì ông đột ngột thay đổi chí hướng. Ông nhận ra chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chừa bệnh tinh thần, ông đã chuyển sang làm văn nghệ.

– Lỗ Tấn đã dùng ngòi bút của mình để phanh phui các “căn bệnh tinh thần” của quốc dân, lưu ý mọi người tìm phương thuốc chữa chạy. Toàn bộ sáng tác của ông đều tập trung phê phán các bệnh tinh thần đã khiến cho quốc dân mê muội, tự thỏa mãn. Chủ đề “phê phán quốc dân tính” trong sáng tác của ông càng ngày càng trở nên sâu sắc, thấm thía vì nhà văn viết với thái độ tự phê phán. Nên cả một dân tộc thực sự nhận thức được như nhà văn thì họ sẽ trở nên vô địch, sự vươn mình vĩ đại của dân tộc Trung Hoa ngày càng chứng minh điều đó.

2. Truyện ngắn Thuốc

Được viết năm 1919, đúng lúc cuộc vận động “Ngũ tứ” bùng nổ. Truyện nói về căn bệnh đớn hèn của nhân dân Trung Hoa do nhân dân thì mê muội, còn những người cách mạng thì xa rời nhân dân. Tác giả cảnh báo người Trung Quốc cần suy nghĩ nghiêm khắc về một phương thuốc để cứu dân tộc.

2.1. Cốt truyện và bối cảnh của tác phẩm

Thuốc là câu chuyện của một số người đi tìm thuốc và uống thuốc. Cốt truyện dung dị chỉ là cái nét chấm phá như tranh thuỷ mặc của Trung Quốc, chỉ có hai màu trắng đen với các sắc độ đậm nhạt khác nhau. Một bức tranh gẩn gũi cuộc sống đời thường như xảy ra quanh quất đâu đây ở một thị trấn hẻo lánh nào đó của nước Trung Bối cảnh của truyện cũng thế. Một quán trà, một pháp trường xử trảm và một bãi tha ma vắng vẻ. Quán trà tẻ nhạt, nghèo nàn của nhũng kẻ vô công rỗi nghề. Pháp trường toàn những bóng đen lượn lờ dưới ánh đèn dầu khi mờ khi tỏ. Bãi tha ma “mộ dày khít… như bánh dao nhà giàu ngày mừng thọ”, ở giữa có con đường nhỏ cố hữu ngăn chia phải trái; phía phải là nghĩa địa người chết bình thường, phía trái là nghĩa địa người chết chém do bị xử trảm. Người Trung Quốc thời ấy vẫn xem người làm cách mạng là “làm giặc”, là trái đạo lí. Bối cảnh ấy là bức tranh điển hình của nước Trung Quốc cổ.

2.2. Các tín hiệu nghệ thuật nối bệt

a. Thời gian nghệ thuật: có sự tiến triển. Hai cảnh đầu xảy ra vào mùa thu, cảnh sau xảy ra vào mùa xuân, đúng tiết thanh minh. Theo người Trung Quốc, mùa thu là buổi chiều của năm. Mùa thu lá vàng rơi để cây tích nhựa qua đông, đón xuân đâm chồi nảy lộc. Cái chết của hai con người do sự u mê của mọi người cũng giống như hai chiếc lá rời cành để tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng.

Mùa xuân, đúng vào tiết thanh minh (thời gian tảo mộ), hai bà mẹ bước qua con đường mòn cố hữu – con đường do con người đi mãi mà thành – đến thăm nhau để bắt đầu có sự đồng cảm. Vòng hoa trên nấm mộ Hạ Du hứa hẹn một sự tiếp bước của cách mạng. Mặc dù vẫn còn chưa công khai, nhưng câu hỏi “Thế này là thế nào?” ở cuối truyện đã hứa hẹn một câu trả lời, một sự giác ngộ.

b. Về nhân vật trong tác phẩm: tác phẩm có nhiều nhân vật nhưng khó xác định nhân vật chính, vì đây là loại tác phẩm “xén mặt ngang cuộc sống”, tái hiện một mẫu đời sống trong một khoảnh khắc, không theo lối miêu tả một số phận, một cuộc đời có trước có sau, có thuỷ có chung như cầu phúc hay Khổng Ất Kì (cũng của tác giả). Tác giả cũng không tập trung miêu tả nhân vật nào một cách kĩ lưỡng. Truyện có bối cảnh:

Cảnh một: Chỉ có vợ chồng ông lão Thuyên cùng thằng con trai ho lao và lão cai ngục “á quần đen ngòm” không rõ mặt.

Cảnh hai: Chỉ xuất hiện một người khách qua đường lúc thằng Thuyên ăn bánh bao.

Cảnh ba: Một tốp khách trong quán trà và nhân vật Hạ Du được nhắc tới trong đối thoại của tốp khách.

Cảnh bốn: Hai bà mẹ trên bãi tha ma có một con đường đường chạy qua phân chia bãi tha ma thành hai phía trái, phải.

B. HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

1. Ý nghĩa của hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người

“Bánh bao tẩm máu người”, nghe như chuyện thời trung cổ nhưng vẫn xảy ra ở nước Trung Hoa trì trệ. Tầng nghĩa thứ hai – Nghĩa đen của tên truyện là – thuốc chữa bệnh lao. Thứ mà ông bà Hoa Thuyên xem là “tiên dược” để cứu mạng thằng con “mười đời độc đinh” đã không cứu được nó mà ngược lại đã giết chết nó – Đó là thuốc mê tín.

– Trong truyện, bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái gở. Và cả đám người trong quán trà cũng cho rằng đó là thứ thuốc tiên. Như vậy, tên truyện còn hàm nghĩa xa hơn, mang tính khai sáng: đây là thứ thuốc độc, mọi người cần phải giác ngộ ra rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh lao được sùng bái là một thứ thuốc độc.

Người Trung Quốc cần phải tỉnh giấc, không được ngủ mãi trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ.

– Chiếc bánh bao – Liều thuốc độc lại được pha chế bằng máu của người cách mạng – Một người xả thân vì nghĩa, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng nông dân.. Những người dân ấy (bố mẹ thằng Thuyên, ông Ba, cả Khang…) lại dửng dưng, mua máu người cách mạng để chữa bệnh… Với hiện tượng chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du, Lỗ Tấn đã đặt ra một vấn đề hết sức hệ trọng là ý nghĩa của sự hi sinh. Tên truyện vì thế mang tầng nghĩa thứ ba: Phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng.

2. Hình tượng người cách mạng Hạ Du hiện lên như thế nào? Thái độ của tác giả?

Nêu ý nghĩa cuộc bàn luận trong quán trà về Hạ Du?

a. Hình tượng người cách mạng Hạ Du không được miêu tả trực tiếp, chỉ được nói tới qua một số chi tiết: đó là một thanh niên tuổi mới đôi mươi, nhà nghèo, có một mẹ già, có bản lĩnh cao cường (trước khi chết còn rủ cai ngục làm cách mạng).

– Có hai chi tiết ám ảnh liên quan đến hình tượng người cách mạng Hạ Du: Máu của anh được lão Thuyên dùng tẩm bánh bao để chữa bệnh lao cho con trai (một quan niệm rất lạc hậu), và chi tiết vòng hoa lặng lẽ, bí mật của ai đó đã cắm trên mộ người

thanh niên cách mạng. Thái độ của tác giả đối với Hạ Du là thái độ ngợi ca, trân trọng (đối lập với thái độ phê phán, vạch ra “căn bệnh quốc dân” đối với những người bình thường xung quanh Hạ Du).

b. Chủ đề bàn luận những người trong quán trà của lão Hoa trước hết là công hiệu của “thứ thuốc đặc biệt” – Chiếc bánh bao tẩm máu người.

– Từ việc bàn về công hiệu của chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du chuyển sang bàn về nhân vật Hạ Du là diễn biến tự nhiên, hợp lí.

– Người tham gia bàn luận tán thưởng rất đông song phát ngôn chủ yếu vẫn là tên đao phủ cả Khang, ngoài ra còn một người có tên kèm theo đặc điểm (cậu Năm gù) và hai người chỉ có đặc điểm (“người râu hoa râm”, “anh chàng hai mươi tuổi”.

Qua những lời bàn luận ấy, Lỗ Tấn đã cho thấy:

+ Sự lạc hậu của dân chúng Trung Quốc đương thời.

+ Lòng yêu nước nhưng vẫn còn xa rời quần chúng của những người chiến sĩ cách mạng.

3. Không gian nghệ thuật của truyện là tù hãm, ẩm mốc, bế tắc, nhưng thời gian thì có tiến triển. Từ mùa thu “trảm quyết” đến mùa xuân “thanh minh” đã thể hiện mạch suy tư lạc quan của tác giả. Tìm hiểu ý nghĩa của chi tiết vòng hoa trên mộ Hạ Du?

a. Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện:

Câu chuyện xảy ra trong hai buổi sớm vào hai mùa: mùa xuân có ý nghĩa không gian tượng trưng. Buổi sáng đầu tiên có ba cảnh: cảnh sáng tinh mơ đi mua bánh bao châm máu người, cảnh pháp trường và cảnh cho con ăn bánh, cảnh quán trà… Ba cảnh gần

như liên tục, diễn ra trong mùa thu lạnh lẽo. Bối cảnh quán trà và đường phố là nơi tụ tập của nhiều loại người, do đó hình dung được dư luận và ý thức xã hội. Buổi sáng cuối cùng là vào dịp tết thanh minh – Mùa xuân tảo mộ. Mùa thu lá rụng, mùa xuân đâm chồi nảy lộc, gieo mầm.

b. Ý nghĩa của vòng hoa trên mộ Hạ Du: có thể xem vòng hoa là cực đối lập của “chiếc bánh bao tẩm máu”. Phủ định vị thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu, tác giả mơ ước tìm kiếm một vị thuốc mới – Chữa được cả những bệnh tật về tinh thần cho toàn xã hội với điều kiện tiên quyết là mọi người phải giác ngộ cách mạng, phải hiểu rõ “ý nghĩa của sự hi sinh” của những người cách mạng.

Nhờ chi tiết vòng hoa trên mộ Hạ Du, chủ đề tư tưởng tác phẩm mới được hiện trọn vẹn, nhờ đó mà không khí của truyện vốn rất u buồn tăm tối song điều mà tác giả đưa đến cho người đọc là không phải tư tưởng bi quan.

C. LUYỆN TẬP NÂNG CAO

1. Ý nghĩa của những chi tiết: nghĩa địa người chết chém bên trái, nghĩa địa người chết bệnh, chết nghèo bên phải, chia cắt bởi một con đường mòn?

– Đây là một vấn đề thuộc quan niệm lạc hậu của người dân đương thời nhưng theo Lỗ Tấn đó cũng chính là căn bệnh quốc dân của người Trung Quốc

– Người ta rất kiêng kị và do đó kì thị đối với người bị chết chém, cho nên khi chết rồi vẫn phân biệt vùng lãnh thổ nghĩa địa.

2. Câu nói của bà mẹ trước vòng hoa trên nấm mộ người tử tù: “Thế này là thế nào? ” có ý nghĩa gì?

– Câu nói của bà mẹ trước vòng hoa trên nấm mộ Hạ Du: “Thế này là thế nào?” vừa thể hiện sự ngạc nhiên, bàng hoàng, sửng sốt, xót xa cho nỗi oan khuất trong cái chết của con mình vừa ẩn giấu một niềm vui vì có người hiểu con mình (chứng cớ là liền sau đó bà mới gào khóc, rồi lại khẩn cầu cho con qua chứng nghiệm). Hiện tượng đó cho thấy đã có biểu hiện của sự giác ngộ trong số những người dân địa phương, và hứa hẹn sự giác ngộ cho mọi người trong một ngày không xa.

– Qua câu hỏi ấy, tác giả cũng muốn loé lên một tia sáng hi vọng đối với sự hi sinh bất tử của người cách mạng.

3. Phân tích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn

a. Thuốc là truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Lỗ Tấn. Nhan đề của truyện gợi lên những liên tưởng độc đáo và có ý nghĩa phê phán đậm nét.

b. Ý nghĩa của nhan đề Thuốc:

– Thuốc nguyên văn là Dược phản ánh quá trình suy tư nặng nề của Lỗ Tấn. Nhận thức rõ thực trạng nhận thức của người dân Trung Quốc lúc bây giờ “ngu muội và hèn nhát”, nhà văn không có ý định mà cũng không đặt ra vấn đề bốc thuốc cho xã hội mà chỉ muốn “lôi hết bệnh tật của quốc dân, làm cho mọi người chú ý và tìm cách chạy chữa”. Tên truyện chỉ có thể dịch là Thuốc chứ không phải là đơn thuốc.

– Tầng nghĩa ngoài cùng là phương thuốc chữa bệnh lao. Một phương thuốc u mê ngu muội giống hệt phương thuốc mà ông thầy lang bốc cho bố Lỗ Tấn, là thứ thuốc độc.

Phương thuốc bố mẹ thằng Thuyên nâng niu, trân trọng và coi như thuốc tiên là thứ đã giết chết nó. Câu chuyện nghe như ở thời Trung cổ lại diễn ra trên đất Trung Hoa, một đất nước trì trệ, đình đốn và tự mãn. Ý nghĩa này làm nổi bật lên tinh thần chống

mê tín dị đoan ở trong tác phẩm.

– Tên truyện mang một lớp ý nghĩa khác, sâu xa hơn. Bố mẹ thằng Thuyên nâng niu phương thuốc quý, thuốc tiên; cả đám người trong quán trà cũng coi đó là thần dược.

Từ quan niệm đó, mọi người đã áp đặt cho thằng Thuyên, bắt nó ăn thứ thuốc độc đó. Do đó, tên truyện còn mang một tầng nghĩa nữa, sâu hơn, mang tính khai sáng, mọi người phải giác ngộ ra rằng: cái gọi là thuốc chữa bệnh được sùng bái vốn là thuốc độc. Người Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ” nữa.

– Liều thuốc độc trớ trêu thay lại được pha chế bằng máu của người cộng sản – Một người cách mạng dùng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng nhân dân. Vậy mà mọi người lại dửng dưng mua máu của người cách mạng về để chữa bệnh. Tên truyện đặt ra một tầng nghĩa thứ ba: Đâu là phương thuốc chữa bệnh rã rời của quốc dân? vấn đề này chỉ mới đặt ra trong tác phẩm mà chính Lỗ Tấn cũng không tìm thấy câu trả lời.

c. Đánh giá chung: Tác giả đặt ra vấn đề nhưng chưa tìm thấy câu trả lời mặc dù ông có đầy đủ quyết tâm và dũng khí. Nhan để tác phẩm tạo ra nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, gợi nhiều liên tưởng sâu sắc.

Soạn bài thuốc của Lỗ Tấn – Bài số 4

1. Tóm tắt nội dung bài học

a. Nội dung

  • Truyện đã thể hiện một nội dung sâu sắc: một dân tộc chưa ý thức được “bệnh tật” của chính mình và chưa có được ánh sáng tư tưởng cách mạng, dân tộc đó vẫn chìm đắm trong mê muội.

b. Nghệ thuật

  • Cốt truyện đơn giản, cách viết cô đọng, giàu hình ảnh mang tính biểu tượng.

  • Cách kể chuyện theo ngôi thứ ba truyền thống nhưng nhiều đoạn chuyển điểm nhìn trần thuật sang nhân vật.

2. Hướng dẫn học bài

Câu 1: Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người mang ý nghĩa gì?

  • Chiếc bánh bao tẩm máu trong truyện được dùng làm phương thuốc chữa bệnh lao. Bài thuốc mà bố mẹ thằng Thuyên nâng niu, trân trọng coi là thuốc tiên để cứu mạng thằng con “mười đời độc đinh” rốt cuộc không cứu được nó mà ngược lại còn giết chết nó => Đây là thứ thuốc mê tín, dị đoan.

  • Bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái quỷ, cứ tưởng là thuốc tiên nhưng lại giết chết con mình. Và cả đám người trong quán trà cũng tin đó là một phương thuốc thần kì có thể cứu được người => Đây là thứ thuốc độc mà mọi người cần phải giác ngộ ra. Người Trung Quốc cần phải tỉnh giấc, không được ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có sửa sổ.

  • Liều thuốc độc ấy trớ trêu thay, lại được pha chế bằng máu của người cách mạng đã dũng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn, đổ máu vì sự nghiệp giải phóng của nhân dân trong đó có những người như bố mẹ thằng Thuyên, như ông Ba, như Cả Khang,…thế mà những con người ấy lại dửng dưng, mua máu người cách mạng để chữa bệnh, chẳng khác gì mua máu súc vật => Phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng.

  • Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Đây là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Lỗ Tấn.

Câu 2: Hình tượng người cách mạng Hạ Du hiện lên như thế nào? Qua cuộc bàn luận trong quán trà về Hạ Du, Lỗ Tấn muốn nói lên điều gì?

  • Hình tượng người cách mạng Hạ Du

    • Nhân vật Hạ Du không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm mà được giới thiệu thông qua các nhân vật khác và qua thái độ của người kể chuyện. Hạ Du chính là người bị chém mà ông Cả Khang đã lấy máu đem tẩm bánh bao bán cho lão Hoa.

    • Nhà Hạ Du nghèo, chỉ có một mẹ già(bà Tứ).

    • Trong nhà lao, Hạ Du vẫn hiên ngang tuyên truyền cách mạng chống nhà Mãn Thanh, không hề sợ hãi. Anh là một anh hùng, hình tượng nhà cách mạng dân chủ tư sản Trung Quốc trước thời Cách mạng Tân Hợi.

    • Sau cái chết, mộ anh được đặt vòng hoa viếng, thể hiện niềm thương tiếc.

=> Hạ Du là người giác ngộ cách mạng sớm, là người dũng cảm, hiên ngang xả thân vì nghĩa lớn nhưng anh lâm vào một bi kịch không ai hiểu được việc làm của anh, ngay cả người thân (thể hiện qua câu hỏi ở cuối truyện). Tác giả thể hiện thái độ ngợi ca, trân trọng (đối lập với thái độ phê phán, vạch ra “căn bệnh quốc dân” đối với những người dân bình thường xung quanh hạ Du).

  • Qua cuộc bàn luận trong quán trà về Hạ Du, lỗ tấn muốn nói lên một sự thực về mối quan hệ giữa người cách mạng và quần chúng:

    • Quần chúng chưa hiểu gì về người cách mạng. Họ coi người cách mạng là những người “làm giặc”, bị bắt và bị xử chém. Bác Cả Khang gọi Hạ Du là “thằng quỷ sứ”, “thằng nhãi con”, những người khác gọi Hạ Du là “điên”.

    • Bản thân người cách mạng lại cô đơn, “bôn ba trong chốn quạnh hiu”, không gắn bó với quần chúng. Hạ Du dũng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn, nhưng lại rất cô đơn, không ai hiểu được việc làm của anh, đến nỗi mẹ anh cũng gào khóc thảm thiết kêu anh chết oan. Quần chúng mua máu anh làm thuốc chữa bệnh cũng là lẽ tự nhiên.

    • Hình ảnh người cách mạng chỉ hiện lên gián tiếp qua cuộc bàn luận trong quán trà của đám đông quần chúng “còn ngủ mê”. Rõ ràng truyện không đặt nhân vật cách mạng vào vị trí chủ yếu mà chỉ đặt ở tuyến ngầm phía sau. Điều này có dụng ý sâu sắc: khi quần chúng chưa giác ngộ thì máu của người cách mạng đổ xuống thật vô nghĩa, không được ai chú ý.

Câu 3: Không gian nghệ thuật của truyện là tù hãm, ẩm mốc, bế tắc, nhưng thời gian nghệ thuật có tiến triển.  Từ mùa thu “trảm quyết” đến mùa xuân thanh minh đã thể hiện mạch suy tư lạc quan của tác giả.  Tìm hiểu ý nghĩa của hình ảnh vòng hoa.

  • Không gian và thời gian nghệ thuật.

    • Câu chuyện xảy ra trong hai buổi sớm vào hai mùa thu, mùa xuân có ý nghĩa không tượng trưng. Buổi sáng đầu tiên có ba cảnh: cảnh sáng tinh mơ đi mua bánh bao tẩm màu người, cảnh pháp trường và cảnh cho con ăn bánh, cảnh quán trà…Ba cảnh gần như liên tục, diễn ra trong mùa thu lạnh lẽo. Bối cảnh quan trà và nới đương phố là nơ tụ tập của nhiều loại người, do đó hình dung được dư luận và ý thức xã hội. Buổi sáng cuối cùng là vào dịp tiết Thanh minh-mùa xuân tảo mộ. Mùa thu lá rụng, mùa xuân đâm chồi nảy lộc gieo mầm.

  • Ý nghĩa của hình ảnh vòng hoa

    • Thể hiện tấm lòng ưu ái của Lỗ Tấn đối với cuộc đời, sự nghiệp, sự hi sinh của Hạ Du.

    • Thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của cách mạng Trung Quốc: có người đã thấu hiểu cho họ.

    • Thể hiện dấu hiệu tốt lành: khẳng định sẽ có những người tiếp tục làm cách mạng, tiếp bước Hạ Du.

⇒ Là chi tiết nghệ thuật độc đáo, thể hiện chủ để tư tưởng tác phẩm, mang nhiều ý nghĩa biểu tượng => đối lập hẳn với hình ảnh chiếc bánh bao: nó thể hiện tấm lòng nhân ái, nỗi niềm trăn trở và nhiềm tin son sắt của Lỗ Tấn vào tiền đồ Cách mạng.

3. Hướng dẫn luyện tập

 

Câu 1: Hãy nêu ý nghĩa của các chi tiêt: nghĩa địa người chết chém bên trái, nghĩa địa người chết nghèo, chết bệnh bên phải, chia cắt bởi một con đường mòn.

  • Cùng là nghĩa địa để chôn cất người chết, nhưng có mộ phân biệt, chia cắt bởi con đường mòn. Nó có ý nghĩa biểu tượng, tượng trưng cho những tư tưởng u mê, sự nhận thức ẩn từ quần chúng trước hiện thực lịch sử,…Họ không thể phân biệt được những người tử tù chết chém vì làm cách mạng và chết chém vì những tội phạm khác. Cứ hễ bị chết chém là đáng cười, đáng khinh, đáng lên án, trái pháp luật, là xấu phải ở nghĩa địa bên trái.  Còn những người chết nghèo, chết bệnh – những cái chết thường tình thì ở nghĩa địa bên phải. Cuối truyện, qua một thời gian giác ngộ, hai bà mẹ bước qua con đường mòn để đến với nhau.

Câu 2: Câu hỏi của bà mẹ trước vòng hoa trên nấm mộ người tử tù “Thế này là thế nào?” có ý nghĩa gì?

  • Ý nghĩa của câu hỏi “Thế này là thế nào?”

    • Thể hiện sự băn khoăn, nghi hoặc của bà mẹ không thế nào hiểu được ý nghĩa về cái chết của con.

    • Có một niềm hy vọng (tuy mơ hồ) nơi người mẹ: có người hiểu và trân trọng con mình.

    • Tác giả ngầm gợi cho người đọc suy nghĩ về sự hi sinh của người chiến sĩ cách mạng, về mối quan hệ giữa người làm cách mạng và quần chúng.

Vũ Hường tổng hợp

LIKE HOẶC +1 ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ

LIKE FANPAGE ĐỂ THEO DÕI