Phân tích tình huống tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

Loading...

Phân tích tình huống tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài số 1

"Sự sống nảy sinh trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy" (Mùa lạc – Nguyễn Khải). Đó là dư âm vang sâu nhất trong tâm hồn độc giả chúng ta mỗi khi đọc tác phẩm Vợ nhặt, một thiên truyện ngắn đặc sắc với những tình huống độc đáo, hấp dẫn, mang đầy tinh thần nhân đạo cao cả, được rút từ tập truyện ngắn Con chỏ xấu xí (1962).

Trong nghệ thuật viết truyện ngắn, tìm ra được một tình huống truyện độc đáo là cực kỳ quan trọng. Tình huống thế nào đó nó sẽ làm bật nổi tất cả: từ không khí của truyện, đến số phận, tâm lý nhân vật, chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Vậy thế nào là tình huống?

Theo Nguyễn Minh Châu tình huống truyện như "Một khúc, một lát cắt của đời sống" một khoảnh khắc ngắn ngủi song lại giúp cho người đọc hình dung được diện mạo toàn thể của đời sống. Ở truyện ngắn Vợ nhặt, cái khoảnh khắc vào truyện khá độc đáo. Nó bắt đầu thời điểm cái nạn đói tràn đến phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945. Ở đó nổi lên hai hình ảnh: Con người năm đói và không gian năm đói. Con người thì "hốc hác, u tối, xanh xám, dật dờ như những bóng ma". Không gian thì ngổn ngang những xác chết, tiếng khóc, tiếng quạ kêu gào lên từng hồi thê thiết, một bầu không khí tang tóc, thê lương bao trùm lên tất cả. Trong bối cảnh như vậy, một người như Tràng, một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư, lâu nay ế vợ, ấy thế mà bỗng dưng nhặt được vợ chỉ nhờ có bốn bát bánh đúc, như người ta nhặt cái rơm cái rác bên đường. Cô dâu quần áo tả tơi, cái nón cũ nát đang cúi đầu theo Tràng về làm dâu và một đám cưới lạ lùng đầy xót thương đã diễn ra. Thật là một tình huống rất oái oăm éo le, rất nghịch cảnh mà có thật không biết đáng mừng hay đáng lo, đáng vui hay đáng buồn, đáng cười hay đáng khóc.

Tình huống ấy cũng đã tạo nên diễn biến, vận động tâm lý thật phức tạp, đa dạng và hấp dần: đi từ ngạc nhiên đến sự thật, từ xa lạ đến gần gũi, từ lo sợ đến hòa hợp, từ buồn tủi đến tươi vui, từ bóng tối đến ánh sáng.

Những người dân ngụ cư: khi biết Tràng "nhặt được vợ", những người dân ngụ cư cũng mừng cho anh mà cũng lo thay cho anh. Việc Tràng có vợ làm cho những khuôn mặt hốc hác vì đói cũng rạng rỡ hẳn lên. Xóm ngụ cư đói nghèo tăm tối đang bị đè nặng bởi nạn đói rùng rợn bỗng dưng "có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào". Sau niềm vui ấy là những tiếng thở dài ngao ngán lo thay cho Tràng không biết đôi vợ chồng trẻ ấy có nuôi nổi nhau qua nạn đói rùng rợn này không? Họ nhìn theo Tràng và bàn tán với nhau bằng nhũng lời đầy ngạc nhiên.

Ngay đến Tràng, chú rể cũng lấy làm ngạc nhiên. Tràng thuộc tầng lớp của những người nghèo khổ, dưới đáy cùng của xã hội xóm ngụ cư, sống hiu quạnh cùng mẹ già trong cái xóm tồi tàn ở mé sông. Ngày xưa, kiếp ngụ cư tủi nhục trăm bề. Họ bị dân chính gốc khinh rẻ, không ai gả con gái cho, vì rằng như thế là vô phúc:

Trai làng ở góa còn đông
Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư?.

Anh có một ngoại hình rất dễ gây ấn tượng cho người đọc. "Hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu. Hắn vừa đi, vừa tủm tìm cười, hai con mắt nhỏ tí, quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ vừa lý thú, vừa dữ tợn… Trẻ con trêu đùa, Tràng ngửa mặt lên cười hềnh hệch, cái áo nâu Tràng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về phía trước".

Là người lao động, nên đằng sau cái ngoại hình thô kệch ấy, vẫn tiềm ẩn những phẩm chất đáng quý: Tràng có một trái tim nhân hậu dễ đồng cảm với những người đang rơi vào cảnh khốn cùng. Khi gặp người đàn bà sắp chết đói, Tràng đã vỗ vào túi, khoe “Rích bố cu" – giàu tiền. Đằng sau câu nói bốc đồng ấy, hình như ẩn chứa một niềm tự hào của con người giàu chữ tâm, sự chân tình và Tràng đã chiêu đãi một cách hào phóng, bằng một bữa tiệc bánh đúc. Thấy thị ăn một cách tội nghiệp, Tràng động lòng thương, bảo thị "Này, nói đùa chứ có về với tớ thì ra khiêng hàng lên xe rồi cùng về", Tràng nói đùa, mà thị theo về thật. Đùa mà hóa thật, khiến anh chợn nghĩ "Thóc gạo này đến cái thân mình cùng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng". Nghĩ rồi bâng khuâng lo sợ. Nhưng Tràng tặc lười: "Chậc kệ". Thế là… Tràng dẫn người đàn bà lạ về làm vợ, để xây dựng gia đình, tiếp nối sự sống. Trên bờ vực thẳm của cái chết, họ tìm đến sự sống. Tràng vui sướng vì sự kiện to lớn, bất ngờ của đời anh: Anh đã có vợ, anh đang dẫn vợ về nhà. Đói, chết tràn lan, mình cũng đói, mẹ già cũng đói. Thế mà lại lấy vợ vào lúc này! Thật lạ lùng và thú vị. Có lúc anh cảm thấy ngượng ngập, lúng túng: "Hắn định nói với thị một vài câu rò tình tứ mà chẳng biết nói thế nào. Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa vào tay kia". Có lúc trong lòng hắn lại trào lên một tình cảm mới lạ, anh cảm thấy: "một cái gì mới mẻ, lạ lắm… Nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng". Người phụ nữ đang theo anh về nhà từ một người xa lạ giờ đây trở nên gần gũi hơn. Anh như quên đi cảnh ngộ éo le của mình: Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mắt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên".

Còn khi về đến nhà thì anh lại cảm thấy ngượng ngập bởi hoàn cảnh chua xót của mình: "Cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại". Đây là lúc anh phải đối diện với thực tại, với hoàn cảnh, với cuộc đời khắc nghiệt. Nhìn người phụ nữ đang ngồi trên chiếc giường của mình mà Tràng cứ ngờ ngợ như không phải thế: "Ra hắn đã có vợ rồi ư?". Câu hỏi này đã thể hiện tâm trạng ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của người trong cuộc. Tràng không dám tin vào sự thật bởi tình huống diễn ra nhanh chóng quá, như là một giấc mơ.

Mãi đến khi bà cụ Tứ về nhà, Tràng mới tìm được một chỗ dựa tinh thần, anh hồi hộp theo dõi thái độ của mẹ, đến khi thấy mẹ bằng lòng thì "Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi". Như vậy là từ tâm trạng "ngạc nhiên" đến "sự thật", từ "lạ lẫm" đến "gần gũi", từ "lo sợ" đến "hòa hợp", từ "buồn tủi" đến "tươi vui", từ "xa lạ" đến "thân mật" rồi thành "vợ chồng". Niềm hạnh phúc bình dị của người lao động nghèo khổ đã tìm đến với Tràng. Sáng hôm sau, Tràng thức dậy muộn, anh cảm thấy "Trong người êm ái, lửng lơ như người từ trong giấc mơ đi ra”. Anh chợt nhận ra "xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng". Tất cả đang thay đổi cùng với cuộc đời anh. Chỉ mới hôm qua thôi, hạnh phúc vẫn như trong mơ mà giờ đây đã trở thành hiện thực. Người vợ mà anh nhặt được cũng trở nên hiền lành, đúng mực. Một tình cảm yêu thương dâng lên bên trong lòng Tràng: "Bỗng nhiên, hắn cảm thấy hắn thương yêu gắn bó với cấn nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy…. một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng". Trước đây anh không hề để ý tới "Lá cờ đỏ sao vàng" và đoàn người đi phá kho thóc Nhật, giờ đây hình ảnh ấy bám riết lấy tâm trí anh "trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới" và "tự dưng hán thấy ân hận, tiếc rẻ, vẩn vơ khó hiểu". Đây có thể nối là sự nhận thức tất yếu từ "bóng tối" đến "ánh sáng", bước đầu giác ngộ lý tưởng cách mạng, lý tưởng tự do của Đảng trong anh.

Loading...

Xưa nay hôn nhân là một việc đại sự như dân gian vẫn thường nói:

Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Cả ba việc ấy thực là khó thay (đều là việc thiêng)

Con gái lấy chồng giàu nghèo cũng phải có cưới xin tử tế. Nhưng không, tủi nhục thay cho thân phận người đàn bà vợ nhặt, "vợ theo không", chẳng cưới hỏi gì. Đó là "vợ Tràng", bởi ngay cả cái tên thị cũng không có. Thị trở thành vợ Tràng như một trò đùa. Lần đầu thị làm quen Tràng bởi "Câu hò chơi cho đỡ nhọc" của Tràng và những lời trêu ghẹo của bạn bè "Thị ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng" rồi "liếc mắt cười tít". Thị đang mong chờ một cái gì đó dù chỉ là mong manh cho tương lai tăm tối của mình. Lần thứ hai gặp lại, ngay đến chính Tràng cũng không nhận ra thị nữa vì thị "rách quá", "quần áo tả tơi… gầy sọp hẳn đi". Thị sà xuống "cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc” chẳng chuyện trò gì, cái đói đã đẩy lùi sĩ diện, nhân cách: Và thị đã không băn khoăn theo Tràng về làm vợ chỉ với một ý nghĩ "cho khỏi đói", để sống cái đã. Xưa nay, trong truyền thống đạo lý Việt Nam, chuyện tỏ tình vốn mang màu sắc tình tứ, duyên dáng, e lệ. Ây thế mà giờ cũng chỉ trần trụi là câu chuyện lăn xả vào miếng ăn, để sau đó làm người vợ nhặt của gã đàn ông xa lạ kia. Thế mới biết đói ghê gớm đến mức nào! về nhà Tràng, Thị cứ "ngồi ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần".

Sao vậy? mẹ Tràng chưa về có ai đâu mà giữ lễ? Kỳ thực cái thế ngồi chông chênh ấy cũng là cái thế của lòng thị, đời thị. Thị đã phải "nén một tiếng thở dài" thất vọng khi trông thấy gia cảnh của Tràng, khi nghĩ đến quá khứ tăm tối và tương lai chông chênh, xa vời của mình. Thị bỗng dưng buồn, buồn lắm, tủi lắm, nỗi đau không trào nước  mắt mà lặn vào trong, càng đau càng tủi. Ấy thế, nhưng chỉ sau một đêm làm vợ Tràng, thị đã khác hẳn "Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh". Nếu hôm qua, cái đói đã làm mất đi những gì tốt đẹp ở thị, thì hôm nay, chỉ sau bữa ăn no, một đêm ngủ ấm, cái tốt đẹp lại trở về với thị. Thị bắt đầu vun vén cho tổ ấm của mình "thị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang". Cho đến lúc này thị mới cảm thấy chuyện làm vợ của mình là chuyện thật. Thị đã có một người chồng tốt, một người mẹ đôn hậu, một mái nhà yên. Tuy cuộc sống còn khó khăn thúc bách nhưng một ngày mai tươi sáng, yên ấm đang thực sự đến rất gần khi một ngày mới, một lá cờ đỏ thắm, một tương lai tươi sáng, một chân trời mới đang dần hiện hữu.

Bà cụ Tứ, mẹ Tràng càng gây được nhiều thiện cảm với người đọc. Có thể nói bà cụ Tứ là nhân vật được xây dựng thành công nhất trong truyện ngắn Vợ nhặt. Người đọc có thể dễ dàng tìm thấy từ hình tượng nhân vật này hình ảnh bao bà mẹ Việt Nam cần cù, chịu thương, chịu khó, rất mực thương con và lúc nào cũng hướng về cái thiện, hướng tới tương lai.

Nỗi niềm tâm sự của bà cụ Tứ được nhà văn Kim Lân khắc họa sinh động trong tình huống câu chuyện với những yếu tố tương phản độc đáo. Người trong cuộc cũng như người ngoài đều có tâm trạng ngạc nhiên trước những điều kỳ lạ đó. Khi bà lão trở về ngôi nhà dột nát của mình, bà bỗng thấy một người đàn bà lạ mặt xuất hiện trong nhà mình "Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng U? Thế này là thế nào?". Lúc đó bà lão không tin ở tai, mắt mình nữa "Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải". Sau những giây phút ngạc nhiên đến sững sờ như thế, bà cụ Tứ đã hiểu ra sự việc: "Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi, lòng người mẹ nghèo khổ ấy, còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình". Tâm trạng của bà diễn biến với nhiều sắc thái khác nhau: niềm vui xen lẫn nỗi buồn, nỗi lo xen lẫn với tâm trạng mừng vui, cảm động… "Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời khổ cực dài dằng dặc của mình…". Bà là người đã trải qua cuộc đời đầy vất vả, khổ đau với bao nỗi éo le trong cuộc sống. Vì vậy trước sự kiện con trai nên vợ, nên chồng, bà xốn xang bao suy nghĩ và bao sắc thái tâm trạng khó có thể diễn tả hết được. Bà vui mừng vì con trai của mình đã lấy được vợ. Niềm vui có con dâu, vì hạnh phúc của con làm cho "gương mặt u ám vì già nua và đói nghèo của bà cũng rạng rỡ hẳn lên". Nhưng đằng sau niềm vui là nỗi buồn tủi, bà buồn tủi cho con mình; bởi "người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy con mình. Mà con mình mới có được vợ". Nỗi lo âu là tâm trạng day dứt bà nhiều nhất, bà băn khoăn: "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó".

Càng nghĩ, bà thêm buồn tủi cho thân phận mình, tủi vì làm mẹ mà không lấy nổi vợ cho con. Nay con có vợ rồi, lại phải cưới vợ theo cách ấy, không dạm hỏi, cưới cheo. "Chao ôi, người ta dựng vợ, gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm ra, những mong sinh con, đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…". Đó vừa là giọt nước mắt buồn tủi, vừa là giọt nước mắt mùng vui, cảm động. Tình thương con hơn lúc nào hết dâng lên mãnh liệt trong lòng bà, bà thương con mình đã đành, bà còn rất thông cảm và thương người con dâu mới "bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là con dâu trong nhà rồi". Bà cũng hiểu thấu đạo lý, cũng nghĩ đến một tiệc cưới nho nhỏ để báo với gia tiên và với mọi người "kể có làm được dăm ba mâm cơm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi! Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá!".

Nhà văn Kim Lân rất hiểu nỗi niềm của người nghèo. Nhà văn đã phân tích quá trình diễn biến tâm lý nhân vật, sự đan xen của nhiều sắc thái tâm trạng rất chân thực và cảm động. Dù niềm vui hay nỗi buồn, dù nỗi lo toan hay tủi phận thì người mẹ Việt Nam vẫn thể hiện một tấm lòng yêu thương, độ lượng. Chính vì tình thương con mà bà cụ Tứ đã kìm nén nỗi buồn, nỗi lo để động viên, an ủi các con. Bữa cơm ngày đói thật thảm hại "giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành". Trong bữa ăn, bà cụ Tứ toàn nói chuyện tốt đẹp mai sau: "Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính… ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy chốc mà có ngay đàn gà cho mà xem". Bà nhìn cuộc sống bằng đôi mắt rất lạc quan, bà tin rằng cuộc sống của những đứa cháu mình sẽ khá giả hơn, bởi "không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". Cái triết lý lạc quan ấy là triết lý dân gian, là cách nghĩ của những người lao động, dù họ có rơi vào hoàn cảnh éo le, đau khổ như thế nào, họ cũng không đánh mất niềm tin vào cuộc sống "những người đói họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống" – Kim Lân.

Bằng những chi tiết chân thực, gọi cảm, ngôn ngữ chính xác, nhân chuyện Tràng nhặt được vợ giữa cảnh chết đói, Kim Lân đã diễn tả thật đặc sắc, sinh động, tinh tế, chân thực tâm trạng bà cụ Tứ, một bà mẹ nông dân tội nghiệp đáng thương mà cũng đáng trọng biết bao; bởi một tấm lòng nhân ái bao la, đầy tinh thần vị tha cao cả ẩn giấu đằng sau tấm thân còm cõi vì già nua tuổi tác và đói nghèo, ở bà, bản chất tốt đẹp của người lao động Việt Nam vừa được thể hiện qua suy nghĩ, vừa được thể hiện qua hành động. Qua đây, tác giả cũng đã làm nổi rõ ý thức của người lao động về truyền thống, đạo lý cao cả của dân tộc.

Phân tích tình huống tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài số 2

1. Vợ nhặt là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân và là tác phẩm được đánh giá rất cao trong nền văn học VN hiện đại – một trong số những truyện ngắn hay nhất trong kho từng truyện nagwns sau 1945. Cơ sở của sự đánh giá đó là tác phẩm này đã xây dựng tình huống truyện độc đáo và mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc.

– Tình huống của truyện ngắn này được thể hiện ngay trong nhan đề: “Vợ nhặt”. Nhan đề của truyện gợi ra cho người đọc nhiều suy nghĩ. Hai chữ Vợ nhặt nằm trong sự kết hợp lạ lùng giữa bi và hài, gợi ra trò đùa tai ác của số phận, nó báo hiệu sự pha trộn éo le, nghịch lí giữa một bên là cái vốn biểu tượng cho khát khao hạnh phúc của con người – vợ, với một bên là cái biểu tượng cho sự tầm thường, rẻ rúng – nhặt. Người vợ gắn với tổ ấm, gắn với gia đình mà có thể nhặt được như cái rơm cái rác ven đường, như một thứ chẳng có giá trị gì người ta bỏ rơi bên đường. Sự kết hợp bi hài và cảm động của nhan đề Vợ nhặt được thể hiện qua tình huống truyện độc đáo được xây dựng trong tác phẩm, người đọc nhận ra được chiều sâu tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.

2. Phân tích

a. Tình huống truyện là một sự kiện đặc biệt của đời sống được nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm. Tại sự kiện ấy, nhà văn làm sống dậy một tình thế bất thường, có tính chất éo le và gây bất ngờ trong các quan hệ giữa các nhân vật. Tại sự kiện đó, tính cách nhân vật được bộc lộ sắc nét, ý tưởng mà nhà văn định gửi gắm cũng hiện hình khá trọn vẹn. Đối với nghệ thuật truyện ngắn, việc tạo ra một tình huống mới lạ, hấp dẫn, có giá trị đặc biệt  góp phần khẳng định thành công, giá trị của tác phẩm. Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã tạo ra được một tình huống truyện vừa lạ lùng, vừa éo le lại cảm động. Đó là tình huống Tràng nhặt được vợ trong những ngày đói khủng khiếp, sự sống đặt bên bờ vực của cái chết. Một lần xe thóc của liên đoàn lên tỉnh, Tràng hò một câu vượt dốc cho đỡ mệt nhưng đã có một ngwof đà bà ra đẩy xe cho Tràng. Anh đã gặp alij người đà bà ấy trong một lần trả hàng xong, chị ấy đã gợi ý để được ăn, Tràng mời ngwofi đó ăn và chỉ qua một câu nói đàu mà chị ấy theo anh về làm vợ.`

b. Tình huống truyện trong Vợ nhặt là tình huống lạ lùng.

– Tình huống lạ lùng:

+ Trong hoàn cảnh cái đói, cái chết đang bao bọc, bủa vây, nhu cầu lớn nhất của con người là kiếm được cái miếng ăn để đảm bảo sự sống, để được tồn tại. Trong hoàn cảnh đó, nhu cầu về hạnh phúc gia đình gần như bị bỏ quên, nó khó có thể tồn tại được. Vậy mà anh Tràng lại lấy vợ, xây dựng hạnh phúc gia đình ngay trong bối cảnh tăm tối và đói khát đó.

+ Một người như Tràng – hội tụ rất nhiều yếu tố để anh ế vợ mà bỗng nhiên có vợ một cách dễ dàng. Anh xấu trai, cuộc sống nghèo khổ, bấp bênh… thế mà có vợ theo không.

– Ý nghĩa, tác dụng của cái lạ lùng: tạo ra tâm trạng ngạc nhiên cho tất cả mọi người trong xóm ngụ cư và gia đình:

+ Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy Tràng đưa người đàn bà lạ về. Họ đứng cả trong cửa bàn tán, hồ nghi vì chưa rõ, nhưng qua dáng vẻ thèn thẹn “hay đáo để” của người đàn bà thì họ hiểu ra nhưng vẫn rất ngạc nhiên. Vì  giữa lúc đới kém “không biết có nuôi nổi thân không” mà còn “rước cái của nợ đời về”. Họ phỏng đoán, họ lo lắng và vui mừng cho Tràng.

+ Bà cụ Tứ – mẹ Tràng ngạc nhiên vì con bà có vợ ngoài dự đoán của người mẹ nghèo, trong hoàn cảnh tăm tối này.

+ Ngay chính Tràng – người trong cuộc cũng ngạc nhiên, khi vợ anh ngồi trong nhà rồi, anh vẫn còn ngỡ ngàng “ra hắn đã có vợ rồi đấy ư” và đến sáng hôm sau thức dậy rồi, anh ấy còn chưa tin mình có vợ – “trong người êm ái, lửng lơ như người vừa ở trong một giấc mơ đi ra” – Anh Tràng ngạc nhiên trước hạnh phúc quá bất ngờ với anh.

c. Tình huống trong Vợ nhặt là một tình huống rất éo le, bất thường.

* Tình huống éo le, bất thường:

– Lấy vợ vốn là niềm vui, niềm hạnh phúc song hạnh phúc bình dị ấy lại diễn ra trong bối cảnh đói khát hiện tại: Tràng đưa người vợ nhặt về giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói, nắng thì đã tắt, chiều đã chạng vạng mặt người.

+ Con đường dẫn dâu về nhà phải đi qua xóm chợ chứa chất đầy sự bi thảm, chết chóc: người chết như ngả rạ, người sống thì xanh xám, hoặc nằm ngổn ngang, hoặc đi lại dật dờ, lặng lẽ như những bóng ma; đám trẻ con thường ngày vô tư hồn nhiên là thế mà nay cũng không buồn nhúc nhích, ngồi ủ rũ dưới những góc tường; không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người; tiếng quạ ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết.

+ Đêm đầu tiên của cuộc sống vợ chồng Tràng cũng không được yên bình, bởi xen vào đó là tiếng hờ khóc tỉ tê não nùng, xót xa…

+ Cảnh sống của gia đình Tràng cũng hết sức thê thảm. Một ngôi nhà vắng teo, xiêu vẹo, đứng rúm ró trên một mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại, giữa nạn đói kinh hoàng. Bữa ăn đầu tiên của gia đình đón nàng dâu mới thật thảm hại, chứa chất bao nỗi tủi hờn: niêu cháo loãng lõng bõng cũng không đủ ăn, họ ăn những miếng cháo cám đắng chát, nghẹn bứ trong cổ họng.

=> Đặt bên cạnh những ám ảnh chết chóc đó, hạnh phúc của Tràng cũng trở nên rất mong manh.

– Lấy vợ là tạo lập một gia đình, là xây dựng nền móng cho tương lai song nó lại diễn ra khi sự sống đang tắt dần và tương lai thì mờ mịt – “năm nay thì đói to đấy”.

– Lấy vợ là việc trọng đại và thiêng liêng của đời người song trong cảnh đói khát, nó diễn ra rất nhếch nhác, thảm hại:

+ cả hai người đều là xa lạ, chưa có hiểu biết gì về nhau, họ cũng không có dự định trở thành vợ chồng, chỉ qua một câu nói đùa của Tràng mà sự đùa đã trở thành sự thật;

+ cô dâu về nhà chồng trong bộ quần áo rách tả tơi như tổ đỉa, cái nón rách tàng rất tội nghiệp và chỉ có một cái thúng con đựng ít đò lặt vặt do Tràng vừa mua cho chứ cũng không là của hồi môn mà bố mẹ cho con gái khi về nhà chồng;

+ con đường dẫn dâu gầy gò, khẳng khiu, xơ xác như cũng mang trong mình nỗi đói khát ghê gớm của nơi này; nó lại rất vắng vẻ không có người qua lại, chỉ có hai vợ chồng Tràng.

+ Hơn nữa, tất cả những nghi thức thiêng liêng theo truyền thống, theo tục lệ  cũng đã bị bỏ qua.

=> Nhà văn Kim Lân “đã chọn cái giây phúc rùng mình của lịch sử trong nạn đói 1945 để gợi lên trong ta những cảm thương xa xót”.

* Ý nghĩa: tạo ra nét tâm lí rất phức tạp cho mọi người cả trong cuộc và ngoài cuộc.

– Tất cả mọi người đều có chung tâm trạng lo lắng:

+ bản thân Tràng cũng cảm thấy “chợn”, lo lắng vì không biết có nuôi nổi thân không lại còn đưa thêm miệng ăn về nhà.

+ Người trong xóm ngụ cư cũng xót xa cho Tràng;

+ bà cụ Tứ – mẹ Tràng lo lắng không biết các con bà có qua nổi thì đói kém này không, lo cho tương lai của chúng.

+ Người vợ nhặt cũng không biết phía trước cuộc sống sẽ thế nào nên cũng ưu tư, phấp phỏng, nét mặt cũng tự nhiên mà bần thần, không nói năng gì, chỉ ngồi mớm ở mép giường, tay ôm khư khư cái thúng.

=> Những lo lắng tạo cho truyện một không khí đầy dồn nén và tạo cho hình tượng nhân vật một chiều sâu tâm lí đầy sức thuyết phục.

– cảm giác buồn tủi, xót xa, cay đắng là cảm giác nổi bật của những người trong cuộc, đặc biệt là người vợ nhặt và bà cụ Tứ.

+ Khi theo Tràng về đến nhà, gia cảnh của Tràng hiện ra trước mắt, một ngôi nhà đứng rúm ró trên một mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại – ngôi nhà đứng trong nạn đói nên cũng hoang dại và thiếu vắng dấu ấn của sự sống,  người đàn bà đã nén một tiếng thở dài trong lồng ngực, có lẽ chị ấy cũng có phần thất vọng về gia đình nhà Tràng – một người đã rất hào hiệp khi mời chị ăn, rất hoang phí khi trong buổi đói khát mà dám bỏ tiền ra mua dầu về thắp buổi tối mà lại sống trong một căn nhà xiêu vẹo thiếu sức sống thế kia; khi đón nhận bát cháo cám từ tay người mẹ chồng, đôi mắt của chị tối lại. Tất cả những điều đó chị không được biết từ trước;

+ Còn bà cụ Tứ, chuyện con trai có vợ, bà nghĩ đến cả cuộc đời đầy tủi cực, chồng chất đắng cay của bà, bà tủi cho thân bà không lo được vợ cho trai bà. Bà đã chu đáo chuẩn bị bữa ăn cho cả nhà trong ngày đầu tiên có nàng dâu mới, ngoài nồi cháo loãng, bà còn chuẩn bị nồi “chè khoán”, tưởng đâu làm cho mọi người no bụng hơn, ai ngờ lại đem vào bữa ăn đó sự đáng chát và nỗi tủi thẹn để từ đó mọi người cúi mặt ăn cho xong lần, ai nấy đều tránh nhìn nhau…

d. Tình huống truyện trong Vợ nhặt cũng đầy cảm động.

*  Tình huống trong Vợ nhặt cảm động:

– Trong những ngày đói quay đói quắt, Tràng cưu mang một người khác, dù không có điều kiện để thực hiện những nghi lễ theo phong tục nhưng việc Tràng mua cho chị một cái thúng con, ăn no nê, dám bỏ tiền ra mua hai hào dầu để thắp tối “tân hôn” có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng: để cho quan hệ giữa hai người không còn ngượng nghịu và dung tục. Điều này còn thể hiện sự trân trọng của Tràng với người vợ – dù là người vợ nhặt, để cho cô ấy bớt đi phần nào sự tủi thân trong  ngày trọng đại nhất của đời mình  và anh cũng nâng niu niềm hạnh phúc bất ngờ của anh.

+ Cũng thật cảm động khi anh chủ động giới thiệu người vợ nhặt của mình với mẹ để tránh cho người vợ sự ngượng nghịu với mặc cảm theo không người đàn ông xa lạ;

+ Cảm động nhất là không khí đầy tình người, tình thân trong gia đình Tràng. Bà cụ Tứ chấp nhận con dâu bằng tất cả tình yêu thương, sự đùm bọc, chở che, lòng nhân hậu. Bà nói chuyện với con dâu như bày tỏ niềm tâm sự, là lời khuyên sâu sắc của người mẹ nghèo từng trải.

+ Cảnh mọi người trong gia đình cùng chung tay dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ, cho mới mẻ: đống rác ngay giữa lối đi đã được hót, đống quần áo cũ được đem ra phơi, những búi cỏ dại lổn nhổn đã được rẫy đi, những cái ang đã đổ đầy nước – dấu ấn sự sống đã trở về trong ngôi nhà quen thuộc của Tràng, ngôi nhà trước đó vẫn đứng trơ vơ, xiêu vẹo, điêu tàn giữa ngày đói; mọi người có chung suy nghĩ: dọn dẹp nhà cửa cho quang quẻ thì cuộc đời có cơ sáng sủa hơn.

+ Trong bữa cơm, mọi người trò chuyện với nhau trong không khí thân tình – thật giản dị mà ấm áp, thiêng liêng; người mẹ bàn bạc về kế hoạch tương lai cho con cái – một tương lai có thể bước tới được, vì nó không quá tầm với: chỉ là một đôi gà với đàn gà con – nhưng đã tràn đầy sự sống.

* Ý nghĩa, tác dụng: tạo nên sự thay đổi theo hướng tích cực của tất cả người trong cuộc và người ngoài cuộc.

+ Dân ngụ cư rạng rỡ hẳn lên, có cái gì lạ lùng thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của họ, đó chính là tình người. Họ đã chứng kiến hai con người, hai số phận gắn bó với nhau, cùng hi vọng vượt qua tình cảnh đói khát hiện tại – giữa lúc làn sóng đói nghèo như muốn cuốn phăng đi tất cả.

+ Bà cụ Tứ trở nên tươi tỉnh, nhanh nhẹn hơn: khuôn mặt rạng rỡ khác ngày thường; trong bữa ăn toàn nói chuyện vui, chuyện tương lai với niềm tin tưởng vào sự thay đổi của cuộc sống.

+ Người vợ nhặt trở nên hiền hậu, đúng mực, ý tứ, đảm đang, chị không còn vẻ gì là chao chát chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh – chất nữ tính của chj đã trở về tọn vẹn.

+ Tràng vui vẻ hơn, hào hứng và anh thấy như trưởng thành hơn, thấy yêu thương và gắn bó với cái nhà anh lạ thường, lại còn hoà hợp với mẹ, anh thấy anh có trách nhiệm với gia đình.

2. Tình huống “nhặt vợ” của Tràng làm toả sáng tư tưởng của nhà văn trong tác phẩm: khẳng định, đề cao những tình cảm cao đẹp, những khát vọng chân chính của con người.

a. Là bài ca về tình nghĩa

– Tình mẫu tử: Việc Tràng có vợ đã gây ra cho bà cụ Tứ rất nhiều phản ứng tâm lí trái ngược nhau (vui mừng và buồn tủi, thương và lo). Song mọi tình cảm đó đều xuât phát từ lòng thương con. Trong hoàn cảnh đói quay đói quắt, bà cụ Tứ đã không hề hăt hủi người đàn bà đã theo không con trai mình về. Bà cụ đã chấp nhận và đón nhận người con dâu với tất cả tấm lòng nhân từ của một người mẹ. Bà đã nói với người đàn bà xa lạ ấy bằng những lời chân thành của một người mẹ – bà thực sự “mừng lòng”.

– Tình người: Dân xóm ngụ cư trong cảnh tối sầm lại vì đói vẫn chia sẻ với Tràng, chia sẻ với nhau cả những nỗi lo cùng niềm vui, niềm hạnh phúc. Còn Tràng, dù trong hoàn cảnh chưa biết có sống nổi đến ngày mai không vẫn sẵn lòng cưu mang một người còn khổ hơn mình. Việc Tràng mời người đàn bà một bữa bánh đúc không hề tính toán gì, cử chỉ hào hiệp ấy không phải do sự giàu có về tiền bạc mà chính ở tình người. Và chính tình nghĩa đã khiến Tràng trở nên lúng túng, trên đường về, anh muốn nói một câu gì cho văn vẻ với người vợ vừa nhặt được à không sao nói nổi, có một cái gì mới mẻ, lạ lắm khiến anh hạnh phúc vô cùng. Người đàn bà được Tràng và người mẹ chồng chấp nhận, chị đã trở nên dịu dàng, đúng mực hơn, tất cả chất nữ tính của chị trước đây bị cái đói tước mất thì  đói thì nay đã trở về nguyên vẹn.

b. Là bài ca về những khát vọng chân chính của con người.

– Đề cao, khẳng định hạnh phúc của con người: Trong hoàn cảnh bi thảm con người vẫn có thể tạo dựng được hạnh phúc. Người nhặt vợ và người vợ nhặt khi đến với nhau lại tạo dựng được một mái ấm hạnh phúc. Niềm hạnh phúc ấy thiêng liêng đến mức làm thay đổi tất cả mọi người – theo chiều hướng tích cực, làm cho mỗi người trở nên Người hơn, yêu thương nhiều hơn, găn bó hơn và có ý thức sâu sắc về cuộc sống và tương lai.

– Khẳng định khát vọng sống, niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai. Trong đêm đầu tiên của vợ chồng Tràng, ánh sáng của ngọn đèn dầu toả ra thứ ánh sáng ấm áp, ánh sáng của niềm vui, niềm tin mãnh liệt. Một người nghèo khổ như Tràng, lại gặp bước khó khăn đến mức đang đứng bên cạnh cái chết thế mà dám bỏ tiền ra mua dầu thắp thì đó không phải là một sự hoang phí mà chính là niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, sự sống. Đặc biệt, nhà văn Kim Lân để cho bà cụ Tứ, người già nhất trong truyện lại nói nhiều nhất về tương lai để khẳng định niềm tin mạnh mẽ, sâu sắc ở tất cả mọi người.

– Kết cấu truyện là kết cấu theo chiều hướng phát triển đi lên, đó là kết cấu dựa trên cơ sở của niềm tin, niềm hi vọng. Truyện mở ra là một buổi chiều chạng vạng mặt người với cái đói thê thảm tước dần sự sống của con người. Và kết thúc là một buổi bình minh sáng bừng và hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh. Đó là một kết thúc lạc quan, nó thể hiện sâu sắc ý tưởng của nhà văn Kim Lân: “Trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, người dân quê Việt Nam vẫn cố gắng vượt lên khỏi cái đói, cái chết, cái thảm đạm để mà vui, mà hi vọng”.

Phân tích tình huống tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài số 3

 Kim Lân được mệnh danh là một trong những nhà văn luôn gắn bó sát sao với cuộc sống của đồng ruộng, dân cày. Lần đầu tiên có một nhà văn xắn quần lội xuống bùn để lắng nghe hơi thở nồng nàn của đất đai, của đời người để thổi hồn vào những trang văn.  Tác phẩm Vợ nhặt được in trong tập “ Con chó xấu xí” vào năm 1962 là câu chuyện tiêu biểu cho ngòi bút của ông.  Trải qua nạn đói năm 1945, ông đã cho ra đời tác phẩm Vợ nhặt để kể lại cho người đời nghe những mảnh đời cơ cực, đói khát của người dân năm xưa.

Điểm sáng trong tác phẩm của Kim Lân chính là nhà văn đã tạo ra một tình huống truyện vô cùng đặc biệt, éo le nhưng lại chứa đựng ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc.

Trong khi có tới hơn hai triệu đồng bào ta chết đói, cái thời mà từng đàn quạ đen rỉa xác người chết đói bay lên, gào lên từng hồi tha thiết thì anh cu Tràng lại nhặt được vợ trong khi anh ta thì vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư ấy vậy mà chỉ với vài câu bông đùa và bát bánh đúc, anh ta có hẳn một cô vợ.  Không chỉ xấu, Tràng còn rơi vào tầng lớp đói nghèo, thấp kém cuối cùng của xã hội. Nhìn căn nhà mà hai mẹ con Tràng ở chắc khác gì túp lều mưa ngã gió mọc trên những búi cỏ dại lổn nhổn. Thêm vào đó, mớ tài sản của Tràng chỉ là một đống quần áo rách bươm vắt khươm mươi niên trong một góc nhà, là hai cái ang nước để khô cong dưới gốc cây ổi.  Tràng cũng như bao người dân nghèo khác, cuộc sống bần cùng, đói khổ nó cứ bám lấy cả đời. Kim Lân đã chọn những chi tiết rất thật, rất gần để tái hiện bức tranh hiện thực xám xịt, bế tắc trong năm ất dậu 1945.

Một tình huống mới được mở ra, khi Tràng chỉ cất câu hò cho đỡ nhọc chứ không có ý chọc ghẹo cô nào:

“ Muốn ăn cơm trắng mấy giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”

Vài câu bông đùa mà lại có sức hút tới vậy, nhìn anh ta rách nát thì nào đâu cơm trắng mà ăn thế mà  một cô nàng vẫn lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng. Giữa những ngày đói khát, người ta chỉ biết nghĩ tới cái đói cái chết, câu hò cất lên trở thành một cầu nối cho đôi trai gái đến với nhau.  Hắn sẵn sàng đại Thị “ thích ăn gì thì ăn”, nghe thế hai con mắt Thị sáng lên.  Người đời chẳng nói, “ miếng ăn là miếng nhục “, Thị bỏ qua cái nhục, cái trơ trẽn liêm xỉ một người con gái để cắm đầu mà ăn. Người sâu sắc sẽ ngâm ngùi thương thay cho thân phận nghèo hèn, Kẻ giàu sang phú quý sẽ ném cho Thị cái nhìn khinh bỉ. Để tồn tại thì thị cần phải có miếng ăn – đó là bản năng mà tạo hóa đã ban cho con người. Xong bữa tiệc bánh đúc mấy xu lẻ, Thị cầm cây đũa quệt ngang mình và nói “ Hà, ngon”, “ về chị thấy hụt tiền thì bỏ bố”. A tràng đáp lại “ làm đếch gì có vợ”. Và rồi anh ta có một cô vợ mang về.

Người trong xóm ùa nhau ra xem vợ anh Cu tràng, họ ngạc nhiên, bàn tán, có kẻ lại “Ôi chao! Đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thời này không?”. Người ta mà biết anh Tràng có vợ với chút sính lễ là bốn bát bánh đúc, chắc người đời còn hả hê hơn nữa. Cô dâu với chiếc nón rách nghiêng nghiêng che nửa khuôn mặt, chú rể lúc nào cũng ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch tự đắc với mình.  Thân mình còn chưa nuôi xong, thế mà anh ta còn đèo bòng thêm một cô vợ. Hắn liều mà Thị cũng liều, Thị thà theo một anh trai xa lạ làm vợ còn hơn vùng vẫy đợi chết đói cô độc ở xã hội mục nát ấy. Thị le lói chút hi vọng về tổ ấm. Về đến căn nhà xiêu vẹo, bữa bộn, Thị nén một tiếng thở dài, “ cái ngực gầy lép của Thị nhô lên”. Trong tiếng thở dài của thị mà biết bao nỗi lòng.  Vẫn là cái nghèo bền vững đeo bám cuộc đời Thị, chắc rồi Thị cũng chết trong cái nghèo túng nơi đây. Tràng đon đả, hân hoan cùng cô vợ mới, nhưng Thị chỉ dám ngồi mớm ở mép giường. Hình ảnh cô nàng với đôi môi bóng loáng ban nào đã biến mất, không còn đôi mắt đưa tình cái miệng chớm nở, con người thật của thị đang chìm đắm trong sự ngậm ngùi chua chát. Thị cảm nhận được cuộc đời thị rồi sẽ chông chênh, vẹo vọ như căn nhà này. Nhưng trong căn nhà ấy, còn một người đàn bà cũng đang ngậm ngùi đắng cay không kém. CHính là mẹ Tràng- bà cụ Tứ.  Bà đã sống gần hết đời với cái nghèo, “ bà lão cúi đầu nín lặng. bà lão hiểu rồi.. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho kiếp con mình… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau cho qua được cơn đói khát này không”. Bà vừa mừng vừa tủi, mừng cho con mình có vợ, nhưng bà buồn cho con bà không có được nổi một đám cưới cho hợp lẽ, bởi “ người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ người ta mới lấy đến con mình.  Biết bao tâm tư đang chồng chéo trên đôi vai người mẹ nghèo, ám ảnh cái kèo, cái chết cũng biết bao anh em chòm xóm càng khiến tim bà cụ nghẹn lại. Trong lòng bà cảm thấy buồn cho trách nhiệm của một người mẹ, cũng không thể lo “ dựng vợ gả chồng” cho đứa con trai đáng thương duy nhất của bà.  Ba con người, ba cuộc đời, nhưng chung một cái phận nghèo khổ bám lấy nhau, chẳng thể nào thoát ra khỏi vũng lầy ấy. Nó khiến con người ta mơ hồ, không biết nên vui hay nên buồn giữa đám hỉ của cặp đôi ấy, cũng không biết là bất hạnh hay hạnh phúc, mai sống hay chết.

Tình huống éo le mà Kim Lân viết nên thật trớ trêu, nhưng lại không hiếm trong chế độ xã hội xưa. Niềm vui có vợ trong phút chốc, rồi Tràng ta cũng phải quay trở lại với sự thật là, hắn nghèo, hắn có nuôi nổi mẹ già vợ dại không. Tác giả đặt tả đêm tâ hôn của vợ chồng tràng cũng thật xót xa” Tràng chỉ dám thắp đèn có một lúc rồi tắt. Hai người nằm lặng lẽ bên nhau trong bóng tối hãi hùng, ghê rợn bởi tiếng hờ khóc tỉ tê, văng vẳng từ những nhà có người chết đói”.

Vợ nhặt của Kim Lân mang đến cho người đọc biết được trải qua biết bao cung bậc cảm xúc. Có chua xót, có đau thương nhưng đâu đó vẫn le lói tình thương, tình yêu giữa người với người. Bản tính lương thiện của con người vẫn vùng vẫy, thoi thóp giữa vũng lầy của tội ác quan sai. Nghèo đói rồi cũng sẽ qua đi, nhưng câu chuyện “ nhặt vợ” của anh tràng sẽ vẫn sống mãi.

Phân tích tình huống tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân – Bài số 4

Kim Lân một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại, cây bút chuyên viết chuyện ngắn về đề tài nông thôn và người nông dân với niềm thương cảm mãnh liệt, có lẽ Kim Lân vốn là con đẻ của đồng ruộng nên hình ảnh người nông dân đã thấm nhuần trong tâm hồn nghệ thuật này. Qua ngòi bút Kim Lân nhũng hình ảnh người nông dân lam lũ, vất vả, nghèo khổ đã được hiện lên với tâm hồn trong sáng thuần hậu giàu lòng lạc quan, và những hình ảnh ấy đã đc thể hiện rõ nét qua tác phẩm Vợ nhặt, là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, là một trong những chuyện ngắn suất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Vợ nhặt được in trong tập truyện Con chó xấu xí (1962), với tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư đc ông bắt tay vào viết sau khi cách mạng tháng Tám thành công nhưng do mất bản thảo đến năm 1954 sau khi hòa bình lặp lại dựa vào một phần cốt truyện cũ thiên truyện Vợ nhặt đã ra đời.

Vợ nhặt – với bối cảnh là nạn đói năm 1945, giữa nạn đói khủng khiếp của xã hội, thì Tràng một người nghèo khó lại là dân ngụ cư, ngộc nghệch thêm nữa lại xấu trai đang ế vợ bỗng dưng có một người vợ quá đỗi dễ dàng, một người vợ theo không chỉ bằng vài câu bông đùa và bốn bát bánh đúc thế mà họ đã nên vợ nên chồng. Anh cu Tràng ấy đến nuôi thân không nổi, lại giữa lúc đói kém hoành hành mà còn đèo bòng chuyện vợ con khiến cho bao con mắt ngạc nhiên đều đổ dồn về phía Tràng khi Tràng dắt về một người đàn bà cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng với vẻ rón rén e thẹn. Đám trẻ con chạy ra có đứa còn gào to “Chông vợ hài”, còn có những người dân đứng ra cả ngưỡng cửa nhìn ra thì thào bàn tán. Về đến “nhà” – 1 túp lều rúm ró siêu vẹo nằm trên mảnh vườn mọc lổm chổm xung quanh nhũng búi cỏ dại. Trước tình huống đó, bà cụ Tứ mẹ Tràng không tránh khỏi ngạc nhiên khi có một người đàn bà lạ xuất hiện trong nhà mình và thị còn đứng ở đầu giường con trai mình và chào mình bằng u, bà cụ chỉ hiểu ra khi Tràng lên tiếng “kìa nhà tôi nó chào u”. Và hơn ai hết, chính bản thân Tràng người đã đưa người đàn bà ấy về nhà khi nhìn thị ngồi ngay giữa nhà mà hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế, đến Tràng còn ngờ ngợ như vậy thì thử hỏi những ng khác k thấy lạ sao được. Đây quả thật là một tình huống truyện hết sức kì lạ.

Không những kì lạ, với tình huống này sự éo le với nhiều xúc cảm đã pha lẫn vào nhau. Niềm hạnh phúc giữa nạn đói đến thê thảm phảng phất mùi gây của xác người, mùi khét lẹt của đống dấm bị đốt cùng với nhũng tiếng quạ kêu thê thiết trên những cây gạo cùng tiếng trống thúc thuế đến xé lòng ngay giữa đêm tân hôn. Ngày Tràng lấy vợ, trong đám cưới của một gia đình đói quay đói quắt cả nhà từ già đến trẻ phải ăn cháo loãng, rồi cháo lõang cũng hết mọi người phải ăn cả cháo cám. Nhưng chính hạnh phúc ấy của Tràng giữa cảnh tang thương chết chóc như vậy đã giúp cho những khuôn mặt hốc hác nơi xóm ngụ cư rạng rỡ hẳn lên, đồng thời họ cũng lo cho Tràng “không biết có nuôi nổi nhau qua cái thì này không”. Bà cụ Tứ, mẹ Tràng vừa vui vừa buồn lại thêm phần thương lo, vui vì con mình lấy được vợ, cũng buồn vì bản thân mình làm mẹ mà không lo nổi cho con một tấm vợ, cùng những thương những lo khi trong câu nói của bà với các con “năm nay đói to đấy,… lấy nhau lúc này u thương quá…” trong nỗi lo đói khát thì tình thương bà cụ dành cho đôi vợ chồng trẻ còn nhiều hơn cả. Nói cách khác trên khuôn mặt người mẹ già nghèo khổ thì giọt nước mắt lăn giữa nụ cười. Và ngay cả Tràng vừa mừng cũng vừa trợn, giữa niềm vui đã có vợ thì Tràng còn lo nỗi lo ngay trong suy nghĩ “thóc gạo này, đến cái thân mình không biết có nuôi nổi không mà còn đèo bòng”, Tràng cũng lo lắm, lo không biết có nuôi nổi bản thân hay không mà còn đèo bòng thêm vợ về nhà. Và trước cái tâm trạng éo le ấy của mọi người đã thể hiện được tình huống éo le cảm động này.

Tình huống truyện Vợ nhặt nổi bật lên trước hết là một tình huống lạ và bên cạnh có thêm phần éo le, cảm đông. chính những tình huống này đã góp phần làm nên các nhân vật trong truyện và làm nổi bật hơn nữa giá trị hiện thức và nhân đạo của thiên truyện Vợ nhặt.

Vũ Hường tổng hợp

Từ khóa tìm kiếm: