Phân tích nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu

Loading...

Phân tích nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu – Bài số 1

Truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Ông đã thành công khi xây dựng nhân vật chính là Tnú- một chàng trai Tây Nguyên sâu nặng nghĩa tình, một con người gan góc dũng cảm như cái tên của anh (T nú tiếng Bana có nghĩa là chàng dũng sĩ), đồng thời là điển hình cho con đường đến với cách mạng (CM) của dân tộc Tây Nguyên (TN).

T nú “chàng dũng sĩ” vốn là một đứa trẻ sớm mồ côi của làng Xôman. Tnú sẽ không có cuộc đời của mình nếu không có sự cưu mang đùm bọc của nhân dân làng Xôman. Làng Xôman cho Tnú tình thương yêu, dạy cho Tnú biết đi, biết nói, biết yêu ghét, biết cầm dao chặt cây làm rẫy, …Tnú nợ dân làng Xôman tất cả cuộc đời. Như một cây xà nu non dại lớn lên giữa sự che chở, đùm bọc của rừng xà nu, Tnú trở thành một cậu bé rồi một chàng trai Tây Nguyên khỏe mạnh, dũng cảm như hình ảnh những chàng trai TN vẫn được nhắc đến trong truyện kể bên bếp lửa nhà rông.

Thuở nhỏ anh đã là một đứa bé có cá tính, dũng cảm và mưu trí. Cùng với Mai, người bạn gái nhỏ của mình, Tnú vượt qua mọi vòng vây của kẻ thù để mạng gạo muối tiếp tế cho CM trong rừng. Tình yêu làng và CM đã cho Tnú lòng dũng cảm để không biết sợ hãi trước quân thù.Tnú ước ao trở thành người CM. Đó là cách tốt nhất, cách duy nhất vào lúc này để bảo vệ những gì mà cậu bé yêu thương. –  Một cử chỉ thật ngây thơ đến buồn cười nhưng chứa đựng một ý nghĩa thật nghiêm túc và cảm động: bực bội vì cố học mà vẫn không nhớ được chữ, Tnú đã đập đến chảy máu đầu mình mà T nú thấy nó ngu quá. Khát khao cách mạng đến thế là cùng!

Khao khát sống để trả cái ơn sâu nặng cả cuộc đời cho làng Xôman, Tnú cũng khao khát bảo vệ cách mạng, tình cảm ấy thật hông nhiên và cũng thật mãnh liệt nơi Tnú.  Với bản chất nhanh nhẹn, mưu trí của một cậu bé quen đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống, Tnú càng nhanh nhẹn mưu trí trong việc bảo vệ CM. Khi làm liên lạc T nú luôn xé rừng mà đi với “cái đầu sáng lạ lùng”, lội qua chỗ nước chảy mạnh để tránh phục kích của kẻ thù “vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình ”.Khi bị bắt T nú nuốt luôn lá thư và kiên quyết bảo vệ bí mật cách mạng.

Bước từ tuổi niên thiếu lên tuổi trưởng thành, Tnú là một chàng trai trưởng thành cả về thể chất lẫn tâm hồn. Tnú rắn rỏi, cường tráng, Tnú cũng thực sự giác ngộ CM. Trở thành chồng Mai rồi thành cha của một đứa con nhỏ, Tnú càng gắn bó với làng, gắn bó với CM.

Biết vượt qua bi kịch cá nhân và lòng căm thù giặc càng tăng khi chứng kiến cảnh vợ con bị giết hại dã man. Thật là một  thử thách ghê gớm đối với Tnú khi từ trong rừng xà nu phải chứng kiến cảnh giặc bắt bớ, khảo tra người làng Xôman trong đó có Mai- vợ anh và đứa con nhỏ cô mang trên người. Tnú phải nắm chặt lấy cây rừng để khỏi xông ra khi những cây sắt của bọn lính quật vào người Mai. Tuy vậy, cái gì cũng có giới hạn, đặc biệt là sự kiên nhẫn phải ghìm lại nỗi phẩn uất chính nghĩa của con người. Khi những cây sắt mạn rợ quật trúng vào thân hình đứa bé mà Mai đã hết sức giữ gìn, thì không có gì có thể giữ được Tnú.  Bị trói chờ hành hình, anh vẫn bình thản lạ lùng  và chỉ nghĩ cho CM “ …ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xoman đánh giặc…chỉ tiếc cho T nú, T nú không sống được tới ngày cầm vũ khí đứng dậy với dân làng”.

Tnú bị bọn lính bắt được. Chúng tra tấn anh bằng mọi cực hình khủng khiếp: tẩm nhựa xà nu lên mười ngón tay Tnú rồi đốt. Không them kêu la một tiếng, Tnú mở mắt trừng trừng nhìn mười ngón tay mình rừng rực cháy như mười ngọn đuốc. Chỉ đến khi nỗi đau đớn đã thấm đến tận cùng gan ruột, trước khi ngất đi Tnú mới thét lên một tiếng. Tiếng thét của Tnú đã trở thành một lời kêu gọi mạnh mẽ cho trai làng Xôman xông vào tiêu diệt kẻ thù.

Hình ảnh bàn tay T nú mang ý nghĩa độc đáo trong bản anh hùng ca của tác. Bàn tay anh hùng được khắc họa đậm nét sử thi.  Bàn tay lành: nghĩa tình, trung thực và đầy kĩ niệm, bàn tay dắt Mai lên rẫy, giấu gạo nuôi CM, viết chữ, bàn tay bảo vệ vợ con…  Bàn tay bị đốt: bàn tay căm thù giặc suốt đời, thể hiện lòng trung thành với CM, bàn tay tuy tàn mà không phế, bàn tay ấy cầm súng để bảo vệ những người mà anh mang nợ yêu thương.

Trở lên trên là cá tính cũng như tinh thần dũng cảm của T nú. Ngoài ra T nú còn là một người trung thành với cách mạng và kỉ luật cao. Thuở nhỏ khi làm liên lạc, T nú bị bắt  anh nuốt luôn lá thư vào bụng và tra tấn nhưng anh vẫn không hề khai một lời nào. Giờ khi trưởng thành ý thức đó lại càng củng cố và phát triển. nó trở thành ý thức chấp hành kỉ luật của anh.  T nú  nhớ nhà, quê hương anh chỉ về thăm khi cấp trên cho phép và về đúng một đêm theo qui định.

Trở về cuộc sống đời thường, T nú lại là một chàng trai Tây Nguyên sâu nặng nghĩa tình. Nói như cách nói của cụ Mết: “Cái bụng Tnú trong như nước con suối chảy qua làng Xôman”. Tnú gắn bó với cách mạng, yêu thương cán bộ cách mạng cũng tự nhiên như người ta uống dòng nước từ trong nguồn núi. Tnú yêu những gì, những ai mà người làng Xôman yêu bới chắc chắn đó phải là điều tốt, người tốt.

Trong cuộc sống đời thường, T nú còn là người chồng, người cha giàu lòng yêu thương. Khi thấy vợ con bị tra tấn, T nú không kiềm chế được căm giận “ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”; “ Một tiếng hét dữ dội. T nú đã nhảy xổ vào giữa bọn lính”. Chính lòng yêu thương vợ con  đã khiến T nú không còn tự chủ nhảy vào che chở cho vợ con “Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai”.

Loading...

Cuộc đời bi tráng và con đường đến với CM của T nú điển hình cho con đường đến vớ CM của người dân Tây Nguyên, góp phần sáng tỏ  Chân lí thời đại: phải dùng bạo lực Cm để tiêu diệt bạo lực phản Cm. Đấu tranh vũ tranh là con đường tất yếu để tự giải phóng.

Hình tượng rừng xà nu và T nú có mối quan hệ khăng khít, bổ sung cho nhau. Rừng xà nu chỉ giữ được màu xanh bất diệt khi có những con người biết hi sinh như T nú; sự hi sinh của những con người như T nú góp phần làm cho những cánh rừng mãi mãi xanh tươi.

Tnú là một con người nhỏ bé giản dị như bao người nhỏ bé và giản dị của làng Xôman. Tnú là đứa con của làng Xôman, của miền đất Tây Nguyên bát ngát. Tuy vậy, trong những nét bình dị của Tnú ta lại thấy một chất huyền thoại thấp thoáng từ đầu đến cuối câu chuyện. Bất kì cuộc chiến đấu chính nghĩa nào cũng sản sinh ra huyền thoại, huống chi một cuộc chiến đấu như cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân VN. 

“Rừng xà nu” mang đậm chất sử thi. Chất sử thi ấy có trong nhan đề tác phẩm, có trong hình tượng cây xà nu bất khuất kiên cường và trong cuộc đời T nú.

Gấp trang truyện người đọc mãi còn thích thú và cảm động về một nhân vật Tnú mang đầy nét sử thi.

“Rừng xà nu” ra đời rất sớm khi cuộc đấu tranh CM chống Mĩ- Ngụy vừa mới bắt đầu ở miền Nam và như một ngọn lửa góp vào cuộc đấu tranh ấy, đến nay, sau hơn 40 năm, tác phẩm và nhân vật của Nguyễn Trung Thành vẫn còn để lại một dấu ấn sâu đậm trong nền văn xuôi VN hiện đại.

Phân tích nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu – Bài số 2

Nguyễn Trung Thành là một nhà văn giàu tài năng. Ông có những thành công nổi bật ngay từ sáng tác đầu tay (Đất nước đứng lên, giải nhất về tiểu thuyết, giải thưởng của đội văn nghệ Việt Nam trao tặng 1954 – 1955). Trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc ông gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên. Nhà văn sống hòa đồng, hiểu biết nhiều về lòng khát khao độc lập, tự do, tinh thần cách mạng quật khởi, bất khuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công của truyện ngắn Rừng xà nu được ông sáng tác vòa mùa hè 1954, khi đế quốc Mĩ tấn công quyết liệt miền Nam nước ta. Tác phẩm này đã đạt giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.

Tnú là hình tượng nhân vật được Nguyễn Trung Thành xây dựng rất thành công trong thiên truyện. Trước hết, ta thấy Tnú là một con người rất gắn bó với cm, gan góc, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo và trung thực. Ngay từ thuở nhỏ, Tnú đã dám một mình vào rừng tiếp tế cho anh Quyết, cán bộ cm mà không sợ bị bắt treo cổ lên cây vả đầu làng hay bị chặt đầu cột tóc treo đầu súng như anh Xút, bà Nhan. Còn khi học chữ thua Mai thì “nổi nóng, đập bể cái bảng nứa trước mặt Mai và anh Quyết, bỏ ra suối ngồi một mình suốt ngày”, “cầm hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng”. Khi bị giặc vây các ngả đường, Tnú “leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi”. Qua sông, “không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên một nước, cưỡi lên thác bang bang như một con cá kình” vì nghĩ rằng: “qua chỗ nước êm, thằng Mĩ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ”. Một lần, ngậm vào miệng cái thư định vượt thác thì bị giặc bắt phục kích, Tnú linh hoạt, nhanh trí nuốt luôn cái thư. Khi bị giặc bắt, quấn giẻ lên mười đầu ngón tay, lấy lửa đốt, Tnú không kêu lên một tiếng nào mà còn trợn mắt nhìn kẻ thù trừng trừng: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chat đầu lưỡi. Răng anh cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên (…) Tnú không thèm, không thể kêu van”. Mặc dù mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt và phải chứng kiến tận mắt kẻ thù giết hại vợ con nhưng Tnú vẫn vượt lên mọi đau đớn, bi kịch cá nhân hang hái gia nhập bộ đội Giải phóng để trả thù cho quê hương và những người thân.

Mặt khác, Tnú là một con người có tính kỉ luật cao. Mặc dù ba năm đi lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phải xa quê hương, xa mái ấm gia đình, xa người thâ, xa bạn bè, nỗi nhớ choán đầy cả cõi lòng nhưng anh không tự ý về thăm làng. Anh xin giấy phép của cấp trên, có chữ kí của người chỉ huy, trung thực trình cho chị Dít và dân làng kiểm tra trong chuyến về phép. Sau một đêm nghỉ phép, anh trở lại đơn vị đúng qui định, gửi lại sau lưng một khoảng trời nhung nhớ, luyến lưu.

Hơn nữa, Tnú là một con người giàu tình yêu thương. Anh yêu bản làng tha thiết. Anh xúc động khi trở về thăm làng. Anh vừa đi theo sự hướng dẫn tận tình của bé Heng, vừa bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm ngày trước. Gặp lại môt cây lớn ngã ngang đường, anh nhớ lại lúc cây này chưa ngã, anh đã gặp Mai lần đầu. Chính Mai đã bày tỏ tình yêu chân thành, thắm thiết đối với anh. Mai cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, “ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa yêu thương. Kỉ niệm đó cắt vào lòng anh như một nhát dao cứa. Anh trợn mắt lên, như những lúc bị tra tấn đau quá trước đây”. Anh thổn thức nỗi lòng khi nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh – “tiếng chày chuyên cần, rỗn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa, của Mai, của Dít”. Tiếng chày ấy chính là trung tâm nỗi nhớ day dứt, nhớ mênh mang khiến ngực đập liên hồi dù cố giữ bình tĩnh và “ chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ quẹo vào làng”. Còn khi cụ Mết dẫn anh ra mái nước đầu làng, đu đã rửa ở suối rồi, nhưng anh vẫn xúc động để cho vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước. Thêm vào đó, anh là người yêu thương vợ con da diết. Không đi Kon Tum mua vải được, anh tự tay xé đôi tấm đồ (mảnh vải đắp) duy nhất của mình ra để làm tấm choàng cho Mai địu con. Trong cơn bi kịch, nấp ở gốc cây cạnh máng nước đầu làng, nhìn thấy cảnh kẻ thù hành hạ vợ con một cách man rợ, thú tính, lòng anh quặn thắt, tái tê. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hề hay biết. Rồi anh bỏ gốc cây, “chồm dậy”, “hét dữ dội”, “nhảy xổ vào bọn lính”. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Anh nguyền rủa: “Đồ ăn thịt người, tau đây! Tnú đây!…” nhưng anh đã không cứu được vợ con thoát khỏi bàn tay hung bạo, đẫm máu của bọn giặc dữ. Đó là nỗi xót xa, đau đớn, cay đắng nhất của một người chồng, một người cha. Hơn nữa, yêu thương mọi người bằng tất cả tấm lòng mình: vì lẽ đó nên Tnú vừa về đến làng, dân làng từ trẻ đến già như lũ trẻ, bé Heng, các cô gái, anh Pre, chị Blom, bà cụ Leng, bà già Prôi, ông già Tâng, cụ Mết đều ré lên, reo lên, vồn vã, vây chặt quang Tnú mừng rỡ không xiết.

Đặc biệt, Tnú là một con người có lòng căm thù giặc sâu sắc. Chứng kiến cảnh người thân bị hành hạ tàn nhẫn, ngọn lửa căm thù trong lòng Tnú bốc cháy ngùn ngụt. Hai con mắt của anh như hai cục lửa lớn. Khi bị giặc dùng nhục hình, anh thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn! Sau này, anh dứt khoát, lạnh lùng trừng trị đích đáng kẻ đã gây tàn tật cho mình. “Anh bóp chết kẻ thù bằng chính hai bàn tay cụt của mình”.

Nhìn chung, cuộc đời và vẻ đẹp riêng của nhân vật Tnú được kết tụ lại trong hai bàn tay ấn tượng: bàn tay hận thù và bàn tay rửa thù.

Có thể nói, Tnú là hình tượng nhân vật mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng của dân làng Xô Man. Bi kịch của cuộc đời Tnú không phải là bi kịch riêng của một cá nhân. Cả làng Xô Man có không ít người có số phận cay đắng, đau đớn, chua xót, ngậm ngùi, bất hạnh như nhân vật Tnú. Vậy nên, bi kịch cuộc đời Tnú mang ý nghĩa điển hình. Vả lại, Tnú là một anh hùng. Cụ Mết, anh Quyết, Mai, Dít, bé Heng cũng là những anh hùng. Cả làng Xô Man anh hùng. Do đó, Tnú là biểu tượng cao đẹp cho những phẩm chất anh hùng, hiên ngang, bất khuất, kiên cường, dũng cảm của núi rừng Tây Nguyên. Hơn thế nữa, con đường cách mạng của nhân vật Tnú gắn liền với con đường cách mạng do anh Quyết làm đại diện, gắn liền với con đường cách mạng của dân làng Xô Man, gắn liền với con đường đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt vời của Đảng ta. Vì vậy, hành động cách mạng của Tnú có sức thôi thúc, ảnh hưởng đến toàn bộ dân làng: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa trên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”.

Tóm lại, nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một hình tượng mang vẻ mĩ học sâu sắc và dạt dào chất sử thi. Tnú chính là nhân vật điển hình đại diện cho cả cộng đồng, sống chết với cộng đồng, gắn bó mật thiết, chặt chẽ với số phận lich sử của cộng đồng. Tnú xứng đáng là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Phân tích nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu – Bài số 3

Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông là nhà văn có công đưa mảnh đất Tây Nguyên hoang sơ đến với văn học hiện đại Việt Nam. Truyện ngăn Rừng xà nu là tác phẩm tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tnú, người con kết tinh mọi vẻ đẹp của nhân dân Tây Nguyên trên nền tập thể nhân dân anh hùng và hình tượng rừng xà nu hùng vĩ trong những ngày kháng chiến chống Mĩ gay go, ác liệt.

Rừng xà nu (1965) ra mắt lần đầu tiên trên Tạp chí văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung bộ (số 2- 1965), sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, đất nước chia làm hai miền. Kẻ thù phá hoại hiệp định, khủng bố, thảm sát, lê máy chém đi khắp miền Nam. Cách mạng rơi vào thời kì đen tối. Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.Thông qua câu chuyện về những con người anh hùng ở một buôn làng hẻo lánh, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí đứng chống lại kẻ thù tàn ác.

Tnú là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Câu chuyện về cuộc đời anh là câu chuyện được sử thi hóa qua lời kể của cụ Mết.Cuộc đời Tnú gắn liền với cuộc đời làng Xô Man. Âm hưởng sử thi chi phối tác giả trong khi xây dựng nhân vật này. Tác giả xuất phát từ vấn đề cộng đồng để phản ánh đời tư của Tnú.Tnú được xây dựng như hình tượng một nhân vật mang tính lí tưởng. Nhà văn lấy nguyên mẫu từ anh Đề, người dân tộc Xơ-đăng, ỏ Tây Nguyên. Năm 1959, anh Đề đã cùng mười chàng trai trong bản giết toàn bộ một tiểu đội lính Diệm và bắt đầu cuộc chiến đấu vũ trang.

Tnú là con của dân làng Xô Man. Dân làng Xô Man nuôi dưỡng, đùm bọc anh, cưu mang anh. “Nó là người Sa Trá mình, cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Chính tình thương yêu của đồng bào đã đem lại cho anh niềm tin yêu cuộc sống, tin vào chính mình, gắn bó sâu sắc với bản làng quê hương, với những gì thân thuộc như tiếng chày giã gạo của những cô gái, con nước mát lạnh đầu bản, những cụ già, những em nhỏ, …sau ba năm đi lực lượng, được về thăm làng, Tnú thấy bồi hồi, xúc động trước cảnh vật thân thuộc quê hương.

Ngay từ nhỏ anh đã là người gan dạ, dám đi tiếp tế lương thực cho cán bộ, làm liên lạc cho cán bộ từ xã lên huyện. Và cũng từ đấy Tnú bộc lộ một trí tuệ hơn người. “Nó không thích lội nước chỗ êm cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi, vượt lên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như con cá kình” bởi theo Tnú “Qua chỗ nước êm thàng Mĩ – Diệm hay phục, qua chỗ nước mạnh nó không ngờ”. Giặc vây các ngả dường thì Tnú leo lên một cây cao, nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà di, lọt qua tất cả các vòng vây. Tnú nghe theo anh Quyết, cố học chữ để sau này thay anh lãnh đạo cách mạng. Quyết tâm học chữ của Tnú thể hiện dứt khoát trong hành động tự đạp hòn đá vào đầu, máu chảy ròng ròng khi cậu thua Mai trong việc nhớ những con chữ. Tnú từ nhỏ đã tâm niệm trong đầu câu nói của cụ Mết: Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn.

Tnú là hiện thân của sự trung thành tuyệt đối với cach mạng, với Đảng, là hiện thân của sự khoẻ mạnh với bộ ngực rộng rãi, hai cánh tay khoẻ chắc như lim, là sự bất khuất kiên cường đã được thử thách qua tra tấn dã man và sự tù đày cuả kẻ thù. Tnú cường tráng như một cây xà nu lớn. Tnú không hề biết sợ hãi, không hề biết khuất phục dù tàn bạo có hiện hình trong mũi súng hay lưỡi dao chém ngang dọc trên lưng. Trong một lần chuyển thư của anh Quyết gửi về huyện, Tnú bị giặc bắt. Họng súng chĩa vào tai lạnh ngắt, Tnú kịp nuốt luôn cái thư. Giặc giam cầm, tra khảo Tnú dã man, lưng Tnú dọc ngang vết dao chém nhưng anh quyết không khai một lời. Anh tìm cách vươt ngục về làng và tiếp tục sự nghiệp lãnh đạo dân làng chuẩn bị chiến đấu. Sức mạnh của anh dường như tăng thêm bởi sự hun đúc của một tình yêu lớn với một người con gái luôn luôn hiền dịu, nhượng nhìn, của một gia đình hạnh phúc cùng Mai và đứa con nhỏ.

Vậy mà bằng ấy cái có, Tnú đã không cứu dược mẹ con Mai khỏi bị kẻ thù giết hại. Cuộc đời Tnú gắn liền với những đau thương mà không chỉ riêng anh gánh chịu. Cái đau đớn mang trên thân xác Tnú là hiện hữu cái đau thương của dân làng Xô Man trong chiến tranh Mái ấm gia đình từng là mơ ước của biết bao đôi thanh niên ấy bỗng chốc tan nát bởi sự tàn ác của kẻ thù. Mai và con anh bị kẻ thù giết chết ngay trước mắt anh. Tnú không cứu được vợ, được con, đau đớn hơn chính bản thân anh cũng trở thành nạn nhân của sự bạo tàn mà kẻ thù đang sử dụng. Vì Tnú cũng chỉ có tay không giữa quân thù đầy vũ khí. Hình ảnh mười đầu ngón tay rừng rực cháy bởi nhựa xà nu như mười ngọn đuốc không chỉ có ý nghĩa tố cáo tội ác quân thù hay nói lên lòng dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng mà còn nói lên một chân lí sâu sắc và tàn nhẫn: khi một Tnú có ý chí mà tay không thì ngay thứ nhựa xà nu thân thiết cái khối chất thơm ngào ngạt và như đọng nắng quê hương kia cũng có thể trở thành ngọn lửa hủy diệt chính những bàn tay vẫn hằng ngày chăm sóc, vun trồng cho nương rẫy.

Tnú không cứu được mẹ con Mai. Không thể chiến đấu với quân thù bằng tay không và lòng căm thù mù quáng. Nhưng Tnú không chìm đắm trong đau thương mất mát, anh biết vượt qua nỗi đau ấy, biến đau thương thành căm hơn và tôi luyện ý chí chiến đấu. Bị giặc bắt sau khi Mai chết, Tnú không nghĩ đến bản thân mà chỉ lo lắng đến việc ai sẽ tiếp tục lãnh đạo dân làng kháng chiến khi Đảng phát lệnh. Chỉ còn cách cầm vũ khí, lúc đó lửa xà nu sẽ tắt trên bàn tay của Tnú. Lửa xà nu chỉ còn soi xác giặc ngổn ngang. Núi rừng Xô Man sẽ ào ào rung động. “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo …”. Đó là một chân lí lớn của cách mạng miền Nam: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.

Sau khi được cụ Mết và thanh niên giải thoát bằng chính giáo mác anh và buôn làng mài, Tnú gia nhập lực lượng chính quy. Và có lẽ việc Tnú đi lực lượng cũng bắt nguồn từ lí tưởng đó. Anh đi lực lượng để hiện thực hóa việc “cầm giáo” mà cụ Mết truyền dạy và cũng để có điều kiện chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược. Ra đi để trả thù nước, rửa thù nhà. Dù bàn tay anh mỗi ngón chỉ còn hai đốt, nhưng cử động được có nghĩa là cầm súng được. Anh đi bộ đội, trở thành tấm gương lớn soi sáng cả một thế hệ ở làng Xô Man. Đối với dân làng, Tnú là một biểu tượng cho sức mạnh, niềm tin và ý chí. Bên cạnh cụ Mết, người cha tinh thần, Tnú là hiện thân của những khát vọng vươn lên. Mỗi một việc làm của anh đều đem lại sự nhận thức cho mọi lứa tuổi. Anh về thăm quê, cấp trên cho chỉ có một đêm, mặc dù nhớ làng bản, nhớ người thân nhưng anh vẫn vui vẻ bởi có chấp hành nghiêm túc nội qui quân đội mới là Tnú. Chính những lúc vui vẻ nhất, anh định đùa nhưng những ánh mắt chờ đợi của mọi người anh lại thôi. Bởi ở anh một lời nói, một hành động đều có thể để lại một tầm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và tinh thần của người dân Xô Man.

Khi xây dựng nhân vật Tnú, Nguyễn Trung Thành đặc biệt dụng công miêu tả đôi bàn tay của anh. Từ đôi bàn tay này, người đọc có thể thấy hiện lên không những cả cuộc đời mà cả những tính cách của nhân vật. Khi còn lành lặn, bàn tay Tnú là bàn tay nghĩa tình, thẳng thắn. Đấy là bàn tay cầm phấn học chữ do cán bộ dạy, bàn tay cầm đá ghè vào đầu để trừng phạt cái tội không nhớ mặt chữ, bàn tay đặt lên bụng để chỉ cộng sản ở đây… Tuy vậy ấn tượng mạnh nhất về đôi bàn tay của Tnú chính là đoạn cao trào của truyện, cũng là đọan đời bi tráng nhất của nhân vật. Giặc quấn giẻ tẩm dầu xà nu vào mười đầu ngón tay và đốt. “Mười ngón tay anh đã trở thành mười ngọn đuốc”, thiêu cháy cả ruột gan Tnú, anh “nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở trong bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi”. Chứng kiến cảnh kẻ thù dã man đốt hai bàn tay của Tnú, dân làng Xô Man không thể kiềm chế được nữa đã bột phát vùng lên tiêu diệt lũ giặc, mở ra tràn sử đấu tranh mới của dân làng. Từ đây bàn tay của Tnú thành tật nguyền, mỗi ngón chỉ còn hai đốt và như một chứng tích về tội ác của kẻ thù mà Tnú mang theo suốt đời. Đến cuối tác phẩm, bàn tay tật nguyền đấy vẫn tiếp tục cầm súng giết giặc, vẫn có thể giết chết tên chỉ huy đồn địch dù nó cố thủ trong hầm. Như vậy, có thể nói bàn tay Tnú được miêu tả trải dài theo suốt cả câu chuyện. Dường như mọi nét tính cách cũng như số phận và chiến công của Tnú đều gắn liền với hình ảnh hai bàn tay ấy.

Cũng như nhiều nhân vật văn học thời chống Mĩ, Tnú được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn, giầu chất lí tưởng, là kết tinh vẻ đẹp anh hùng của người dân Tây Nguyên. Qua nhân vật này Nguyễn Trung Thành muốn thể hiện một số phận nhất là con đường của nhân dân Tây Nguyên, nhân dân Miền Nam trong quá trình đấu tranh giải phóng: cần phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng

Phân tích nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu – Bài số 4

Truyện ngắn Rừng xà nu là tác phẩm xuất sắc viết về đề tài miền núi, đề tài chiến tranh, cách mạng. Truyện ngắn này đã đạt giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu năm 1965. Rừng xà nu phản ánh cuộc đấu tranh của đồng bào Tây Nguyên chống Mĩ Ngụy, làm ngời lên lòng yêu nước bất khuất và sức sống kiên cường của người dân Tây Nguyên nói riêng, đồng bào miền Nam nói chung. Tác phẩm Nguyễn Trung Thành nổi bật ở cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi trong văn học giai đoạn 1945 – 1975. Nổi bật lên trong truyện ngăn Rừng xà nu là nhân vật Tnú.

Tnú là hình tượng điển hình cho tính cách người dân Tây Nguyên, điển hình cho con đường đẩu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên, làm sáng tỏ một chân lí thời đại đánh Mĩ: “chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo”. Qua hình tượng nhân vật Tnú, người đọc còn thấy được nghệ thuật giàu chất sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nu.

Ở Tnú vừa có những tính cách đặc trưng riêng, vừa điển hình cho tính cách Tây Nguyên Tnú là người có tính cách trung thực, gan góc, dũng cảm, cái chất Tây Nguyên này đã thấm sâu vào Tnú từ khi còn nhỏ. Lúc Tnú và Mai dẫn đường tiếp tế lương thực cho cán bộ, được anh Quyết dạy cho cái chữ. Học chữ thua Mai. Tnú đã đập vỡ bảng, lấy đá đập vào chảy máu để đưa được cái chữ vào trong đầu. Điều đó chứng tỏ Tnú là một cậu bé có nghị lực và gan góc, kiên cường. Sự gan góc, dũng cảm của cậu bé Tây Nguyên này càng bộc lộ khi đối diện với kẻ thù. Làm liên lạc mang tài liệu cho cán bộ, gặp địch Tnú nuốt luôn tài liệu. Khi kẻ thù tra tấn đánh đập anh, chúng hỏi cộng sản đâu, Tnú dõng dạc đặt tay lên bụng trả lời "Ở đây này”.

Ở nhân vật Tnú, hình tượng đôi bàn tay gây một ấn tượng sâu sắc, hình tượng hai bàn tay là hình tượng mang tính cách, hai bàn tay khi còn lành lặn là đôi bàn tay nghĩa tình. Đôi bàn tay ấy còn biết cầm phấn học cái chữ anh Quyết dạy cho, cũng đôi bàn tay ấy đã lấy đá ghè đầu tự trừng phạt mình khi không học được cái chữ. Khi Tnú thoát ngục Kon Tum trở về, Mai đón anh ở tận đầu làng, chị cầm đôi bàn tay Tnú mà rưng rưng nước mắt. Đôi bàn tay Tnú bị giặc đốt giờ mỗi ngón chỉ còn hai đốt, vĩnh viễn không bao giờ mọc lại. Nhưng với đôi bàn tay cụt đốt ấy Tnú vẫn cầm vũ khí lên đường chiến đấu. Đó là đôi bàn tay mang sức mạnh căm hờn.

Trong cuộc sống cũng như chiến đấu, Tnú có tính kỉ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng.

Tham gia lực lượng đấu tranh đánh Mĩ, Tnú rất nhớ quê hương nhưng anh chỉ về thăm quê khi được phép của cấp trên. Bằng rừng, lội suối qua bao hiểm nguy Tnú mới về đến làng nhưng anh cũng chỉ ở lại quê đúng một đêm rồi lại lên đường về đơn vị.

Khi Tnú bị giặc đốt mười đầu ngón tay Tnú vẫn không kêu nửa lời: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở ngực máu anh mặn chát ở đầu lưỡi, rằng anh cắn nát môi anh rồi. Tnú cắn răng chịu đựng bởi anh tâm niệm lời dặn anh Quyết, lời dặn của Đảng “người cộng sản không thèm kêu van”. Lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng của Tnú cũng giống như lòng trung thành của cụ Mết – người già bản vẫn thường dặn con cháu: "Đảng còn, sông núi này còn". Từ lòng trung thành đối với cách mạng Tnú đã lên đường chiến đấu, mang theo niềm vui, sự tin tưởng vào thắng lợi cách mạng.

Tnú là người giàu lòng yêu thương nhưng cũng cháy bỏng căm hờn. Yêu thương hay căm hờn đều mang tính cách Tây Nguyên.

Tnú là người bạn nghĩa tình khi Mai còn nhỏ, người yêu thủy chung của Mai khi đà trưởng thành và là người chồng, người cha đầy trách nhiệm. Ke thù không bắt được Tnú, chúng đã bắt Mai và đứa con nhỏ đánh đập, hành hạ dã man để lung lạc tinh thần Tnú. Chứng kiên cảnh Mai và đứa con nhỏ bị dùng gậy sắt đánh đập dã man, Tnú xông ra cứu mặc dù trong tay không có vũ khí. Động lực nào đã thôi thúc Tnú để anh xông vào kẻ thù với tất cả sức mạnh rừng thiêng. Động lực ghê gớm chỉ xuất phát từ một trái tim cháy bỏng yêu thương và căm hờn. Tnú cũng là người con nghĩa tình của buôn làng. Anh lớn lên trong sự yêu thương đùm bọc của người dân Strá. Tnú gắn bó tha thiết với mảnh đất quê hương với những cánh rừng xà nu. Anh thuộc lòng từng con đường mòn, từng con suối nhỏ. Anh lên đường chiến đẩu để giải phóng quê hương. Tnú xứng đáng là tấm gương chung để cụ Mết giáo dục con cháu.

Lòng căm thù của Tnú cũng mang tính cách Tây Nguyên. Tnú mang trong mình ba mối thù lớn: mối thù bản thân, gia đình và buôn làng. Lưng Tnú dọc ngang những vết dao chém, mười ngón tay anh bị đốt, là những chứng tích tội ác của kẻ thù mà anh mang theo suốt đời. Vợ con anh bị chết thảm khốc dưới cây gậy sắt của giặc, là mối thù lớn của gia đình mà anh không bao giờ quên. Những cánh rừng xà nu bị giặc tàn phá, những người dân vô tội làng Xô Man bị giặc sát hại là mối thù mà anh không đội trời chung với Mĩ – Ngụy. Mang trong tim ba mối thù lớn ấy, với đôi bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt anh vẫn cầm vũ khí đi tìm những thằng Dục để trả thù. Đối với Tnú đã là giặc thì thằng nào cũng tàn ác như thằng Dục. Cuối cùng Tnú đã giết chết tên chỉ huy đồn địch nay trong hầm cố thủ của hắn. Anh trừng phạt kẻ thù không phải bằng súng, bằng dao mà bằng chính đôi bàn tay trừng phạt, đôi bàn tay quả báo. Kẻ thù đã gây tội ác thì chúng phải chết bằng chính chứng tích mà chúng gây nên.

Tnú không chỉ điển hình cho tính cách Tây Nguyên mà còn điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên. Làm sáng tỏ chân lí thời đại đánh Mĩ: “chúng nó đã câm súng mình phải cầm giáo”.

Bi kịch của Tnú là bi kịch cá nhân nhưng đồng thời là bi kịch mang ý nghĩa điển hình cho con đường đấu trành đến với cách mạng của người dân làng Xô Man. Người dân Strá cũng phải chịu bao đau thương như Tnú. Bà Nhan bị chặt đầu, cắt tóc, bêu đầu súng. Anh Xút bị treo cổ lên cây và đầu làng. Mảnh đất và cánh rừng xà nu bị đạn pháo giặc tàn phá, cả rừng xà nu không cây nào không bị thương. Bi kịch Tnú khi chưa cầm vũ khí cũng là bi kịch của người dân làng Xô Man khi chưa giác ngộ chân lí: “Chúng nó cầm súng mình cầm giáo” (lời cụ Mết).

Tnú hội tụ trong mình sức mạnh cá nhân, sức mạnh thể chất và cả sức mạnh tinh thần. Anh cường tráng như một cây xà nu lớn. Chứa trong lồng ngực anh là sức mạnh phi thường, hoang dại của núi rừng Tây Nguyên. Chảy trong huyết quản anh là dòng máu anh hùng của Tây Nguyên bất khuất có từ thời Đăm San. Tnú gan góc, dũng cảm, không có sức mạnh tàn bạo nào có thể khuất phục được anh, dù sự tàn bạo ấy hiện hình thành lưỡi dao, thành mũi súng hay ngọn lửa…

Với sức mạnh cá nhân to lớn nhưng khi Tnú tay không trước kẻ thù tàn bạo có vũ khí thì anh vẫn thất bại đau đớn.

Vợ con anh vẫn chết một cách thảm khốc. Anh không cứu được Mai và đứa con thơ, bản thân anh bị giặc bắt, bị giặc đốt mười đầu ngón tay. Lửa đốt bàn tay Tnú lại là lửa chảy từ nhựa xà nu. Cái thứ nhựa xà nu hiền lành, cái khói thơm ngạt ngào như đọng lắng quê hương ấy lại trở thành ngọn lửa hủy diệt chính đôi bàn tay đã vun trồng nên rừng xà nu, đôi bàn tay ấy đã từng chăm sóc cho cây xà nu. Đây là bài học xót xa, đau đớn khi người dân không cầm được vũ khí trước kẻ thù tàn bạo.

Tnú được cứu khi người dân Xô Man cầm vũ khí đứng lên tiêu diệt kẻ thù. Sau bao ngày vào rừng mài dao, mài rựa rèn giáo, rèn mác, sau bao ngày chuẩn bị vũ khí người dân Strá đã nhất tế nổi dậy, đi đầu là cụ Mất. Với sức mạnh của lòng yêu quê hương đất nước, họ đã chém gục thằng Dục, giết cả tiểu đội lính ác ôn. dập lửa cứu đôi bàn tay Tnú và giải cứu cho anh. Người dân làng Xô Man đã nổi dậy với cả sức mạnh tinh thần và sức mạnh võ trang để giải phóng buôn làng.

Con đường đấu tranh của Tnú từ sự bột phát đến tham gia lực lượng vũ trang đánh Mĩ là con đường đấu tranh từ tự phát đến tự giác của người dân làng Xô Man. Con đường ấy chính là phải vũ trang đứng lên chiến đấu tiêu diệt kẻ thù dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nếu truyện ngắn Rừng xà nu đậm chất dân tộc và chất sử thi thì hình tượng nhân vật Tnú là sự minh chứng cho đặc điểm nghệ thuật này.

Tnú mang tính cách Tây Nguyên. Điển hình cho tính cách Tây Nguyên đó chính là tính cách của những người trung thực, gan góc, dũng cảm. Những con 

người giàu lòng yêu thương mà cũng cháy bỏng căm hờn. Những con người có lòng tin tuyệt đối vào cách mạng. Để khắc hoạ tính cách nhân vật Tnú, nhà văn chú ý miêu tả ngôn ngữ đối thoại thẳng thắn, ngắn gọn, chú ý miêu tả mạnh mẽ quyết liệt. Nếu cụ Mết có khí thế ào ạt như thác lũ Tây Nguyên thì Tnú có tinh thần kiên cường, bất khuất, tư thế vững chãi như núi rừng Tây Nguyên.

Cuộc nổi dậy của người dân Xô Man và cuộc đời bi tráng của Tnú được kể lại trong đêm anh về thăm làng. Duới mái nhà ưng (nhà rông), những người dân làng Xô Man quây quần bên bếp lửa trong không khí một đêm thiêng liêng, bên bếp lửa bập bùng lời người già bản cất lên: “Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tao chết rồi, phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo”. Lời kể của cụ Mết trầm hùng vang lên như lời phán truyền của lịch sử. Nó gợi lại không khí của những lời kê “khan” rất quen thuộc ở người dân Tây Nguyên, những bài kê khan như hát suốt đêm nói về bộ tộc, bộ lạc, nói về chiến công của những người anh hùng. Cuộc đời bi tráng của Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man là câu chuyện của hiện tại nhưng qua lời kể khan của cụ Mết thì câu chuyện của hiện tại đã mang không khí màu sắc lịch sử. Chính điều này đã tạo nên một khoảng cách sử thi, đã tạo nên sự chiêm ngưỡng mang tính chất sử thi. Nhân vật Tnú qua lời kê khan của cụ Mết làm người đọc liên tưởng đến vẻ đẹp của những người anh hùng, dũng sĩ của bản trường ca, các bản sử thi Tây Nguyên.

Tiếp theo hình tượng nhân vật anh hùng Núp trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên, Nguyễn Trung Thành (một bút danh khác của Nguyên Ngọc) đã xây dựng thành công nhân vật Tnú – một nhân vật mang tính cách điển hình cho Tây Nguyên bất khuất. Với Đất nước đúng lên viết trước đó và Rừng xà nụ viết trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, Nguyên Ngọc thuộc số nhà văn đầu tiên đã mở cánh cửa văn học vào Tây Nguyên. Và trên mảnh đất này ông đã xây dựng được những lâu đài nghệ thuật trong kí ức của người đọc và cho đến hôm nay Nguyên Ngọc vẫn là nhà văn viết đúng nhất, hay nhất về Tây Nguyên.

Vũ Hường tổng hợp

Từ khóa tìm kiếm: