Hóa thân thành An Dương Vương kể lại câu chuyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

Loading...

Hóa thân thành An Dương Vương kể lại câu chuyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy – Bài số 1

Hôm nay, ta thành thật thú nhận tội lỗi của mình đã vô tình để xảy ra cho đất nước nhân dân Âu Lạc một quộc chiến tranh mà đáng lẽ không thể có.

Ta là An Dương Vương, vị vua đã xây nên thành cổ Loa bền vững và đã được thần Kim Quy trao tặng cái lẫy thần nên giữ được bình yên cho muôn dân. Lúc đó, Triệu Đà sang xâm lược nhiều lần nhưng hắn phải thất bại trước cái nỏ thần linh thiêng kì diệu ấy: Chỉ cần một mũi tên bắn ra là có biết bao quân sĩ gục ngã. Tức giận, hắn chờ đợi thời cơ; còn ta tự đắc trước những chiến công nên không dè dặt nghĩ đến những âm mưu hiểm độc của Triệu Đà.

Một ngày kia, một tên tâm phúc của Triệu Đà mang lễ vật đến xin cầu hòa. Ta nhận lời ngay vì không muốn kéo dài binh đao khói lửa. Từ đó, hắn cho con trai là Trọng Thủy sang lân la với con gái ta là Mị Châu. Trọng Thủy là chàng trai lịch lãm nên hắn dễ dàng lấy được lòng cha con ta. Thế rồi, Triệu Đà chính thức mang lễ vật đến cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thụy. Đã từ lâu Mị Châu cũng phải lòng Trọng Thủy rồi nên ta không có lí do gì mà từ chối. Chúng cưới nhau và sống hết sức thuận hòa hạnh phúc. Nhưng đối với ta, Trọng Thủy có vẻ hơi khác thường.

Một thời gian, Trọng Thủy xin phép về thăm cha rồi không bao lâu quay trở lại. Ta cho quân bày yến tiệc và rót rượu cho Trọng Thủy nhưng hắn từ chối. Ngược lai, hắn lại mời ta uống liên tiếp đến nỗi ta say mèm chỉ thoáng thấy bóng hắn vụt qua rồi ta không biết gì nữa. Đến khi tỉnh lại, ta thấy Trọng Thủy đang ngồi bên cạnh ta cung kính nói:

– Thưa nhạc phụ, người đã khỏe chưa?

– Ta khỏe rồi. Sao con không đến với Mị Châu? Ta thì thào.

– Hiền thê đà có nô tì chăm sóc rồi! Hắn nhỏ nhẹ đáp.

Ta lại nói tiếp:

– Được rồi, con cứ đến thăm vợ con đi.

Hắn kính cẩn chào:

– Xin phép nhạc phụ, con đi.

Loading...

Kể sáng tạo truyện “Mị Châu Trọng Thủy” bằng lời tự thuật của An Dương Vương

Vua An Dương Vương đã không cảnh giác trước kẻ thù nên cơ nghiệp bị sụp đổ

Tất cả những nghi ngờ trong ta từ trước đến nay đã tan biến hết. Đang sống yên vui, bất ngờ Trọng Thủy lại xin về nước khiến Mị Châu buồn bã vô cùng. Chỉ mấy ngày sau, Triệu Đà ùn ùn kéo đại quân sang. Ta ngạc nhiên quá, nhưng tin tưởng vào nỏ thần nên vẫn ung dung ngồi đánh cờ chờ quàn giặc đến gần thành rồi bắn luôn. Không ngờ, nỏ thần hết hiệu nghiệm mà quân thù đang đi vào thành. Vừa hoảng sợ và thắc mắc ta không hiểu nổi lí do nào mà nỏ thần không còn ứng nghiệm nữa. Cuối cùng trước tình thế cấp bách ta cùng Mị Châu lên ngựa tháo chạy về phía đông. Nhưng chạy đến đâu cũng nghe tiếng reo hò quân giặc đuổi theo. Cùng đường, ta hướng mắt về phía biển khơi gọi thần Kim Quy cứu giúp. Bỗng thần nổi lên và dõng dạc nói: “Giặc ở sau lung nhà vua đó!".

Ta quay lại nhìn thì chỉ có Mị Châu với chiếc áo lông ngỗng đã trụi cả lông. Ta chợt hiểu ra tất cả. Thì ra bọn giặc dò theo dấu lông ngồng để đến được đây. Và cũng chính Mị Nương, đứa con gái thơ ngây của ta đã vô tình tiết lộ bí mật quốc gia cho tên gián điệp Trọng Thủy cho nên ta mới có ngày này. Quá tuyệt vọng, không còn con đường nào khác ta rút gươm ra chém chết Mị Châu rồỉi tự tử. Nhưng thần Kim Quy lại rẽ mặt nước cho ta đi xuống biển.

Đây là câu chuyện sự thật của đời ta, của vua An Dương Vương đã không cảnh giác trước kẻ thù nên cơ nghiệp bị sụp đổ. Ta mong rằng những kẻ kế vị sau này xem đây là bài học xương máu mà giữ mình.

Hóa thân thành An Dương Vương kể lại câu chuyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy – Bài số 2

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có "Tấm Cám", truyện ngụ ngôn có "Thầy bói xem voi" thì truyền thuyết có "Ta và Mị Châu – Trọng Thủy". Truyền thuyết là "nghệ thuật lựa chọn các sự kiện và nhân vật để xây dựng các hình tượng nghệ thuật, phản ánh tập trung nhất lịch sử của địa phương, quốc gia, dân tộc… Nếu lịch sử cố gắng phản ánh chính xác các sự kiện và nhân vật, thì truyền thuyết lại quan tâm hơn đến sự lay động tình cảm và niềm tin của người nghe sau những sự kiện và nhân vật đó." Đây có thể xem là câu chuyện bi kịch đầu tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi không ít nước mắt cũng như sự căm phẫn của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà ta đã rút ra được bài  học cho chính mình: đừng quá chủ quan, khinh thường địch mà chuốc lấy thất bại. Truyền thuyết "Ta và Mị Châu, Trọng Thủy", trích truyện "Rùa Vàng" trong "Lĩnh Nam chích quái", đã nói lên chiến công của ta là vua Âu Lạc xây thành, chế nỏ, giữ nước thành công và bi kịch tình yêu của Mị Châu gắn liền bi kịch mất nước của ta.

Trong buổi đầu dựng nước, ta đã rất có công với dân tộc. Ta cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được ấm no hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn không thành công, ta bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ta dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp đỡ của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ta, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có lẽ ta đã vui mừng khôn xiết khi thấy điều đó. Ta còn lo cho vận mệnh đất nước khi tâm sự mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho ta một cái vuốt. Ta đã làm thành nỏ, cái nỏ ấy có thể bắn ra hàng ngàn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái bình thịnh trị. Ta thấy rằng ta quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của thiên hạ.

Nhưng cũng chính vì thế cũng đã hình thành tính tự mãn của ta. Khi Đà sang cầu hôn, ta đã đồng ý gả con gái mình cho con trai Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có hiềm khích là sự dự báo cho những mối hiểm họa về sau.

"Một đôi kẻ Việt người Tàu
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương"

"Một đôi kẻ Việt người Tàu" lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng ta không hề màng tới điều đó. Có lẽ ta chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ không phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ta không biết được, kẻ thù dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ta nghĩ cho dân, nghĩ đến cái lợi trước mắt nhưng lại không nghĩ đến những điều nguy hiểm sắp đến. Vì thế, ta đã đưa cả cơ đồ "đắm biển sâu".

Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, ta dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang đánh chiếm thì ta "vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: 'Đà không sợ nỏ thần sao?'" ta đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ta mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ta chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ không còn cách đối kháng nào khác. Khi ra đến biển Đông, ta còn không nhận ra được đâu là giặc, ta chỉ ngửa mặt kêu "trời" mà không biết phải làm gì. Đến khi thần Rùa Vàng hiện lên và nói: "Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!" thì ta đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, không do dự ấy đã chứng minh ta là một vị minh quân. Ta đặt việc nước lên trên việc nhà, không để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khiếm khuyết cho ta. Khi ta không xây được thành, thần hiện lên giúp đỡ, khi ta lo cho vận mệnh đất nước, thần cũng hết sức chỉ bảo ta và lúc này, khi nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ta. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Chi tiết "vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển" đã chứng minh điều đó. Biển cả đã mở rộng tấm lòng đón ta về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp?

Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một chiến thắng vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của ta mang tính hiện thực sâu sắc. Và bi kịch nước mất nhà tan ấy xuất phát từ mối tình duyên của Mị Châu và Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất ngây thơ, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế mà nàng lại "vô tư" đến mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu muội đến mức lầm lẫn giữa "tình nhi nữ" và "việc quân vương". Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ "tòng" thời ấy. Nhưng không chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Khi đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước khi đi, chàng nói với Mị Châu: "Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?". Câu nói đầy ẩn ý của Trọng Thủy thế mà Mị Châu không nhận ra. Nàng yêu Trọng Thủy đến mức còn không thèm đặt ra câu hỏi tại sao hai nước phải thất hòa, tại sao Bắc Nam phải cách biệt trong khi ta đã là "người một nhà". Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong đến ngày sum họp: "Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau". Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người vợ yêu chồng tha thiết. Nhưng nàng không biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà chiến thắng vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết cha mình.

"Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn
Những chiếc lông không tự biết giấu mình"

Khi bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là trang phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã không còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước khi bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: "Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù". Nàng đã nhận ra được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng bấy lâu nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân không trọn vẹn, xác biến thành ngọc thạch, máu biến thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự cảm thông của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã "vô tình" đưa nước Việt vào một ngàn năm nô lệ.

Không như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như ta "nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà". Và trong tình yêu phải luôn luôn sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong "Tâm sự" đã nói:

"Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống
Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng
Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào
Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu
Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước
Nên em ơi ta đành tự nhắc mình"

Hóa thân thành An Dương Vương kể lại câu chuyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy – Bài số 3

Hôm nay, ta thành thật thú nhận tội lỗi của mình đã vô tình để xảy ra cho đất nước nhân dân Âu Lạc một quộc chiến tranh mà đáng lẽ không thể có.

Ta là An Dương Vương, vị vua đã xây nên thành Cổ Loa bền vững và đã được thần Kim Quy trao tặng cái lẫy thần nên giữ được bình yên cho muôn dân. Lúc đó, Triệu Đà sang xâm lược nhiều lần nhưng hắn phải thất bại trước cái nỏ thần linh thiêng kì diệu ấy: Chỉ cần một mũi tên bắn ra là có biết bao quân sĩ gục ngã. Tức giận, hắn chờ đợi thời cơ; còn ta tự đắc trước những chiến công nên không dè dặt nghĩ đến những âm mưu hiểm độc của Triệu Đà.

Một ngày kia, một tên tâm phúc của Triệu Đà mang lễ vật đến xin cầu hòa. Ta nhận lời ngay vì không muốn kéo dài binh đao khói lửa. Từ đó, hắn cho con trai là Trọng Thủy sang lân la với con gái ta là Mị Châu. Trọng Thủy là chàng trai lịch lãm nên hắn dễ dàng lấy được lòng cha con ta. Thế rồi, Triệu Đà chính thức mang lễ vật đến cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thủy. Đã từ lâu Mị Châu cũng phải lòng Trọng Thủy rồi nên ta không có lí do gì mà từ chối. Chúng cưới nhau và sống hết sức thuận hòa hạnh phúc. Nhưng đối với ta, Trọng Thủy có vẻ hơi khác thường.

Một thời gian, Trọng Thủy xin phép về thăm cha rồi không bao lâu quay trở lại. Ta cho quân bày yến tiệc và rót rượu cho Trọng Thủy nhưng hắn từ chối. Ngược lại, hắn lại mời ta uống liên tiếp đến nỗi ta say mèm chỉ thoáng thấy bóng hắn vụt qua rồi ta không biết gì nữa. Đến khi tỉnh lại, ta thấy Trọng Thủy đang ngồi bên cạnh ta cung kính nói:

– Thưa nhạc phụ, người đã khỏe chưa?

– Ta khỏe rồi. Sao con không đến với Mị Châu? Ta thì thào.

– Hiền thê đà có nô tì chăm sóc rồi! Hắn nhỏ nhẹ đáp.

Ta lại nói tiếp:

– Được rồi, con cứ đến thăm vợ con đi.

Hắn kính cẩn chào:

– Xin phép nhạc phụ, con đi.

Tất cả những nghi ngờ trong ta từ trước đến nay đã tan biến hết. Đang sống yên vui, bất ngờ Trọng Thủy lại xin về nước khiến Mị Châu buồn bã vô cùng. Chỉ mấy ngày sau, Triệu Đà ùn ùn kéo đại quân sang. Ta ngạc nhiên quá, nhưng tin tưởng vào nỏ thần nên vẫn ung dung ngồi đánh cờ chờ quân giặc đến gần thành rồi bắn luôn. Không ngờ, nỏ thần hết hiệu nghiệm mà quân thù đang đi vào thành. Vừa hoảng sợ và thắc mắc ta không hiểu nổi lí do nào mà nỏ thần không còn ứng nghiệm nữa. Cuối cùng trước tình thế cấp bách ta cùng Mị Châu lên ngựa tháo chạy về phía đông. Nhưng chạy đến đâu cũng nghe tiếng reo hò quân giặc đuổi theo. Cùng đường, ta hướng mắt về phía biển khơi gọi thần Kim Quy cứu giúp. Bỗng thần nổi lên và dõng dạc nói: "Giặc ở sau lưng nhà vua đó!".

Ta quay lại nhìn thì chỉ có Mị Châu với chiếc áo lông ngỗng đã trụi cả lông. Ta chợt hiểu ra tất cả. Thì ra bọn giặc dò theo dấu lông ngỗng để đến được đây. Và cũng chính Mị Nương, đứa con gái thơ ngây của ta đã vô tình tiết lộ bí mật quốc gia cho tên gián điệp Trọng Thủy cho nên ta mới có ngày này. Quá tuyệt vọng, không còn con đường nào khác ta rút gươm ra chém chết Mị Châu rồi tự tử. Nhưng thần Kim Quy lại rẽ mặt nước cho ta đi xuống biển.

Đây là câu chuyện sự thật của đời ta, của vua An Dương Vương đã không cảnh giác trước kẻ thù nên cơ nghiệp bị sụp đổ. Ta mong rằng những kẻ kế vị sau này xem đây là bài học xương máu mà giữ mình.

Hóa thân thành Trọng Thủy kể lại câu chuyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy – Bài số 4

Trong lòng ta thật sự đang rất rối loạn. Từng tiếng vó ngựa vang như từng nhát đao lớn sắc lẹm cứa vào tâm trí. Vốn là một hoàng tử của vùng đất Hải Nam, nơi vua cha ta – Triệu Đà – ngự trị, ta chưa từng trải qua cảm giác này bao giờ. Trọng Thuỷ – ta – đang lần theo dấu lông ngỗng trên áo nàng…

     Chuyện bắt đầu từ khi vua cha quyết định đem quân xâm lược Âu Lạc. Âu Lạc vốn là một vùng đất trù phú mà cha và ta để ý từ lâu. Như ta được biết thì vua nước này là An Dương Vương. Ông đã dời thành từ vùng núi hiểm trở xuống đồng bằng đất đai màu mỡ. Ta đương nhiên ủng hộ quyết định của vua cha. Kể từ khi Âu lạc xây xong thành Cổ Loa, vị trí nằm gọn trong đồng bằng vốn xanh tươi, thuận tiện phát triển, nay càng dễ dàng đổ bộ quân mình xuống đó. Chắc chắn thương vong sẽ ít hơn khi đánh ở miền đồi núi gập ghềnh. Và thế là cha lên đường ngay mà không chần chừ.

     Tuy nhiên, sự việc không thành công như mong đợi. Bên phía Âu Lạc, vua An Dương Vương đã sử dụng một thứ vũ khí mạnh vượt tầm suy đoán của bên ta. Cha ta giao chiến chẳng bao lâu thì thua lớn, phải rút về Trâu Sơn, đắp luý nhưng không dám manh động đối chiến. Trước cái nỏ với sức công phá cực kì lớn, quân ta phải xin hoà. Liên tục mấy ngày sau thất bại, vua cha quả thật ăn không ngon, ngủ không yên. Lòng ta cũng nặng trịch khi vua cha cứ nhíu mày mãi. Nhiều đêm liên tiếp, ta thấy đèn bên phòng cha vẫn bập bùng sáng. Cha hao tâm tổn sức nhiều như vậy, ta có khuyên người giữ gìn sức khoẻ bao nhiêu, người cũng chỉ gật đầu cho qua… Cho đến một ngày, cha đưa ra một quyết định khiến ta không khỏi trăn trở.

     Cha muốn có một cuộc hôn nhân hữu nghị giữa hai nước. Chính ta sẽ là người lấy công chúa Âu Lạc, thậm chí ta phải sang đó ở hẳn một thời gian. Trở về phòng sau khi bàn chuyện với cha, ta ngồi xuống, nhắm mắt lại. Liệu cái cảm giác bấy giờ là đang vui hay đang buồn? Ta trầm ngâm hay ta đang rạo rực… Trước giờ chỉ mải mê lâm trận, trăm phương ngàn kế dốc sức đem về chiến thắng khiến vua cha vui lòng. Nay lại phải thành thân để tính toán của cha được trọn vẹn… Cả đêm ấy ta không thể chợp mắt nổi. Ta có quá nhiều câu hỏi, suy đoán: “Nàng là ai? Nàng như thế nào? Liệu ta làm như lời cha thì nàng sẽ phản ứng ra sao? Liệu sau này khi mọi chuyện đã thành thì mối quan hệ này sẽ đi về đâu? Nhưng không! Ta đã vội vàng rồi. Liệu An Dương Vương có đồng ý cuộc hôn nhân này không mới là điều đáng lo trước tiên. Nếu ông ta không đồng ý, mọi việc không trót lọt… Mà nếu ông ta ưng thuận thì bước tiếp theo sẽ phải làm gì?…”

     Những suy nghĩ, tính toán cứ đè nặng tâm trí ta cho đến ngày ta cùng cha đem sính lễ sang Âu Lạc và nhận được sự chấp thuận nhanh chóng của vua An Dương Vương. Ta lấy thật sự bất ngờ trước thái độ bình thản đến vô tư của vua nước Âu Lạc. Ông đã quên cha và ta là ai rồi sao? Ông cười thoải mái. Ông đã quên ý định muốn xâm chiếm Âu Lạc của cha và ta rồi sao? Ông niềm nở tiếp đón, thậm chí cha mới chỉ ngỏ ý, ông như đã hiểu ra, đồng ý gật đầu ngay. Ông đã quên cha và ta có tham vọng lớn như thế nào rồi sao? Chẳng chút đề phòng, ông gọi ngay con gái ra. Ông đã rất điềm tĩnh. Ông đang tự tin ư?… Dòng suy nghĩ của ta bỗng nghẹn lại. Bao suy tính chồng chéo, bao thấp thỏm lo âu, bao cá nhíu mày nặng nề của ta như tiêu tan trước vẻ đẹp của nàng. Một vẻ đẹp dịu dàng, thanh nhã, thoát tục.

–         Mị Châu, bái kiến Triệu Vương và Trọng Thuỷ hoàng tử. – Vua An Dương Vương cười lớn, thoải mái nói.

–         Dạ… – Giọng nói thật trong vang lên.

Giọng nói ấy sao mà mềm mại đến thế. Dường như nàng chỉ cần cất lời lên đã đủ ru nhẹ tâm hồn ta vậy. Mị Châu, tên nàng thật đẹp, thật mỏng manh, yêu kiều. Còn nàng, nàng vận bộ áo hồng phớt như cánh hoa chớm nở còn e ấp, thẹn thùng, nhẹ nhàng mà thơm đến mê say. Ôi không! Ta thật là…! Ta đã quá đắm chìm trong vẻ đẹp ấy. Mặt ta nóng bừng khi nàng tới gần. Đó là giờ khắc ta thật sự hiểu lời truyền trong thiên hạ, thật sự hiểu thế nào là “anh hùng không qua nổi ải mĩ nhân”. Ta thấy Mị Châu khẽ mỉm cười. Nụ cười ấy sao mà đẹp đến thế! Ôi không! Ta lại mất cảnh giác rồi!…

     Hôn lễ giữa nàng và ta nhanh chóng được tổ chức. Giừo phút được vận bộ hỉ phục đỏ thắm, lòng ta bỗng nhen lên chút mãn nguyện ngọt ngào, như mừng vui, như say đắm lại thấp thỏm, lo âu không đoán được cảm xúc, suy nghĩ của nàng qua ánh mắt long lanh. Rồi cuộc sống sau này sẽ ra sao? Liệu ta có hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng ấy?…

     Dần dần, ta nhận ra Mị Châu ngây thơ hơn ta tưởng rất nhiều, so với ta, một lòng đầy toan tính… Ở lại Cổ Loa một thời gian, phải chăng ta quen dần với giọng nói trong như ngọc của nàng, quen dần với nụ cười ngây ngốc đến đáng yêu, quen với cách nàng chăm sóc ta, quen với những cử chỉ yêu thương đằm thắm, quen với sự chân thật của nàng… Ta thật sự, thật sự đã coi nàng như một phần không thể thiếu của mình. Xa một chút đã nhớ, ở gần lại càng muốn trân trọng, nâng niu… Ta vốn ở đây vì toan tính của cha, vì tham vọng của cha, thân phận là một hoàng tử, ta muốn lập công lớn báo đáp quốc gia… Vậy mà giờ lại yêu thương nàng…

     Thế rồi thời khắc đã đến! Mục đích mà cha muốn đưa ta vào cuộc hôn nhân này cuối cùng cũng sắp chín muồi. Cảm nhận được tình yêu vô điều kiện của Mị Châu, ta hiểu đã đến lúc nàng nguyện trao cho ta tất cả. Cho dù có là bí mật quốc gia! Cho dù nàng có là phận công chúa cao quý, là công chúa của Âu Lạc hùng mạnh. Ta ngỏ ý với nàng rằng ta muốn xem vũ khí thần thông quảng đại mà đã khiến Âu Lạc thắng nước ta khi xưa. Và đúng như cha dự tính, mọi việc đâu vào đó cứ thế diễn ra. Ta ngầm làm một lẫy nỏ khác thay thế rồi đem nỏ thần về. Chiếc nỏ với vuốt của Rùa Vàng, chiếc nỏ chứa bí mật quốc gia cuối cùng cũng nằm trong tay ta. Ta nhanh chóng đem nỏ giả trả cho Mị Châu, cất vào chỗ cũ rồi nói dối nàng ta phải về phương Bắc thăm cha. Ánh mắt gợn nước của nàng chớp nhẹ rồi cụp xuống. Nàng buồn khi xa ta. Ta bỗng chần chừ, bâng khuâng, không biết nên làm gì, nên nói gì trước ánh mất ấy. Đáng lẽ ra nàng không nên biết về cuộc tấn công bất ngờ. Đáng lẽ ta nên bỏ mặc nàng và về ngay báo tin cho cha ta rằng đã hoàn thanh nhiệm vụ, nhưng… Mãi lâu sau, ta mới chua xót nói:

–         Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?

Nàng khẽ đáp:

–         Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu cũng sẽ dứt lông àm rắc ở ngã ba đường mà làm dấu, như vậy có thể cứu được nhau.”

     Và giờ ta đang lần theo dấu lông ngỗng đó. An Dương Vương chủ quan, ỷ lại nỏ thần nên đã mất nước vào tay vua cha. So với cái đắc ý, thản nhiên khi trước có lẽ bây giờ đang phi nước đại đưa Mị Châu đi trốn. Mị Châu… Nàng giờ ra sao rồi?  Những ngày vắng ta, nàng có ăn ngon, ngủ đủ, có lần nào bỏ bữa vì không có ta ăn cùng? Nàng giờ có an toàn không? Vua An Dương Vương định đưa nàng đi đâu? Mắt ta đau đáu nhìn xuống ngã ba đường lần theo dấu lông ngỗng. Phải, ta có mừng. Mừng vì giúp vua cha chiếm được Âu Lạc. Nhưng ta lo lắng nhiều hơn. Ta lo cho một người còn ngây thơ lắm, còn chưa biết bảo vệ bản thân. Liệu rằng Mị châu có buồn vì nước mất, hối hận vì đã đưa ta lẫy nỏ?… Thế rồi, một màu đỏ tang thương hiện ra trước mắt.

–         Mị Châu!

Ta gọi, ta lớn giọng dần lên. Rồi ta gào lên. Nhưng nàng vẫn nằm đó… Mị Châu của ta! Nàng đã bị ai chém… Ta vội nhảy xuống khỏi ngựa. Mắt ta mờ đi. Ta đã làm gì? Ta ôm chặt lấy cơ thể lạnh lẽo của nàng.

–         Ta không tin! Không tin! Mị Châu, tỉnh lại đi! Tỉnh dậy đi Mị Châu! Ta đây! Ta về rồi đây. Tỉnh lại đi Mị Châu!…”

     Hôm đó, cái tên Mị Châu không biết đã được ta gọi lên bao nhiêu lần, hét lên bao nhiêu lần. Ta cứ ngồi đó, ôm nàng, lay nàng, cố ngăn nước mắt tràn ra nhưng bất lực, làm loang lổ màu đỏ trước mắt. Ta đem nàng về hoả táng ở Loa Thành, xác nàng bỗng biến thành ngọc thạch. Rõ ràng cha đã nắm trong tay Âu Lạc. Ta lại là hoàng tử lập công lớn. Ta vui còn không xuể. Nhưng ta vui thật sao? Ta ngàn vạn lần muốn chứng minh cho Mị châu thấy ta bị kẹt giữa đại sự đất nước với hạnh phúc cá nhân như thế nào. Ta tiến thoái lưỡng nan, nàng có thấu hiểu? Nhưng nàng đã xa ta. Giọng nói nhỏ nhẹ của nàng, tiếng cười e thẹn còn văng vẳng bên tai ta… Nhiều đêm sau, ta không sao yên lòng. Hễ mở mắt lại muốn kiếm tìm xung quanh hình bóng của nàng. Hễ nhắm mắt lại mường tượng nàng đang gần bên, làn môi mềm, bờ vai mảnh khảnh… Ta nhớ nàng…

     Lâu sau, đến một ngày, hình bóng Mị Châu hiện lên dưới làn nước trong giếng sâu trong thành. Ta đưa tay ra, nó lại biến mất. Ta khao khát chạm vào bờ má hồng, bóng nàng lại trôi xa… Ta chẳng thiết gì nữa, cứ thế lao đầu xuống giếng. Trước khi mất hoàn toàn ý thức, ta còn nghe loáng thoáng tiếng nháo nhác của các công công: “Hoàng tử! Hoàng tử…!” Ta mặc kệ. Thế rồi ta thấy nàng…

Vũ Hường tổng hợp

Từ khóa tìm kiếm:

LIKE HOẶC +1 ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ

LIKE FANPAGE ĐỂ THEO DÕI