Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù

Loading...

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 1

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa của nền văn học Việt Nam. Nghiệp sáng tác của ông chia thành hai giai đoạn trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng tháng Tám. Trước cách mạng, ngòi bút của ông thiên về phương châm “Vang bóng một thời-trụy lạc-xê dịch”. Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là tác phẩm kiệt xuất trước cách mạng tháng Tám, đã khắc họa thành công hình ảnh Huấn Cao, một kẻ sĩ tài hoa, có tấm lòng thẳng thắn.

Huấn Cao là một kẻ sĩ xả thân vì đại nghĩa, lên án và tố cáo sự trắng trợn của triều đình, ông bất chấp tất cả để chống lại triều đình mục nát, thối rữa. Huấn Cao trong mắt của bọn lính là một kẻ “ngạo ngược và nguy hiểm nhất”, nên đề phòng. ĐỐi với thầy thơ thì ông “văn võ đều có tài cả, chà chà” còn đối với người quàn ngục thì Huấn Cao là người “chọc trời quấy nước”, coi thường tiền bạc và bạo lực. Với những cách nhìn ấy, Huấn Cao là một người tài ba trong mắt của mọi người, là một kẻ tù nhưng lại có tấm lòng kiên trung, toát lên sự thanh cao giữa chốn xiềng xích nhơ bẩn.

Bằng ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Tuân đã vẽ lên hình ảnh Huấn Cao bộc trực, đầy hào khí, từng đường nét đều rất thoát phàm, rất độc đáo. Là một kẻ tù nhưng Huấn Cao dường như chẳng sợ trời, chẳng sợ đất, ông có thể thét lên với bất cứ ai. KHông cần hành động nhưng khí phách của ông lại khiến cho mọi người nể phục.

Huấn Cao giữa chốn lao tù này còn được biết đến là kẻ sĩ tài hoa, người đời mến mộ bằng cái tên “cái người mà vùng tỉnh Sơn đã khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp..” Những kẻ sĩ có chữ đẹp luôn được sung bái và ngưỡng mộ như vậy. Chữ của ông như “một báu vật trên đời”, ai có diễm phúc sở hữu chữ của ông chính là sở hữu một vật báu trong thiên hạ. Huấn Cao không biết ông quản ngục luôn có một ước mong được sở hữu chữa Huấn Cao, được treo chữ của ông viết ở trong nhà, chữ ông Huấn Caop đẹp và vuông lắm. Một con người tài đức vẹn toàn, một con người không chỉ tài hoa mà còn có cái tâm rất trong sáng và ngay thằng. Kỳ thực ông viết chữ đẹp nhưng chưa bao giờ “ép mình viết bao giờ” Đấy là cốt cách thực sự đáng quý. Ông chỉ viết cho những người thực sự xứng đáng, những người có thể khiến ông ngưỡng mộ và khâm phục nhất.

Nguyễn Tuân thực sự rất tài, tài đến nối đọc từng câu từng chữ của ông người ta cứ ngỡ như ông đang vẽ nên một bức họa thật sinh động giữa chốn nhân gian về một kẻ sĩ đáng trọng như Huấn Cao.

Huấn Cao còn là một người trân trọng tìn bạn, mến mộ những con người có “chí nhớn” trong thiên hạ. Qua lời kể của viên thơ lại, ông đã biết được tấm lòng của viên quản ngục và ngưỡng mợ trước tấm chân tình cũng như sự yêu mến và khát khao có được chữ của ông. Ông xúc động nhận ra được con người có thú vui thanh tao giữa chốn gong cùm nhơ bẩn này “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi. Nào ta biết đâu một người như thầy quản mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Chỉ một cụm từ “phụ một tấm lòng trong thiên hạ”, Huấn Cao đã khiến cho người đọc không thể nén được cảm xúc. Một con người biết trân trọng cái đẹp, hướng về cái đẹp, đó là một lối sống hướng đến vẻ đẹp “Chân-Thiện-Mỹ”.

Hình ảnh cảnh cho chữ hiện lên ở cuối tác phẩm dường như là cảnh tượng khó quên nhất trong tác phẩm. Một cảnh tưởng khiến cho người đọc nhớ mãi. Cảnh cho chữ diễn ra không phải ở một nơi thanh cao mà lại diễn ra giữa chốn ngục tù, là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Hình ảnh ba con người hiện lên trong cảnh tượng ấy thật đẹp, thật lung linh, họ không còn là người tù, viên quản ngục nữa mà là những người yêu cái đẹp, tâm đắc với cái đẹp. Cảnh cho chữ ấy thật thiêng liêng và xúc động, sự gặp gỡ quá muộn màng giữa những con người yêu cái đẹp, yêu cái vẻ đẹp hoàn thiện nhất. Hình ảnh Huấn Cao vương xiềng xích, tung bút viết những chữ vuông vắn nhất thực sự là hình ảnh đẹp nhất, đáng ngưỡng mộ và khâm phục nhất. Hình ảnh viên quản ngục “vái lạy” Huấn Cao và Huấn Cao đỡ viên quản ngục dây thực sự là hình ảnh ám ánh khi gấp trang sách lại. Thời khắc mong manh giữa sự sống và cái chết khiến cho người kẻ sĩ ấy thêm kì vĩ, lấp lánh hơn. Kẻ tử tù không thể có cốt cách như vậy, chỉ có anh hùng mới xứng đáng với cốt cách ấy. Và Huấn Cao là môt đấng anh hùng như vậy.

Huấn Cao hiện lên rõ nét, oai phong, đĩnh đạc qua từng nét bút của Nguyễn Tuân thực sự khiến cho người đọc không thể rời mắt khỏi trang viết. Huấn Cao là biểu tượng của cái đẹp vĩnh cửu, của những gì hoàn hảo và kiên trung nhất. Một con người “khó kiếm” trong thiên hạ.

Thực vậy, gấp trang sách lại nhưng hình ảnh Huấn Cao vẫn hiện hiển trong trí óc của người đọc. Ông là hình ảnh tiêu biểu cho những anh hùng hiên ngang bất khuất giữa chốn nhơ bẩn, bất công của thời đại.

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 2

Bằng một thứ văn xuôi điêu luyện gợi được không khí cổ kính của một thời đã qua, nguyễn tuân đã khắc họa thành công những nét tính cách nhân vật. Trong tác phẩm, trước tiên ta thấy huấn cao là hình ảnh một con người tự trọng, sống hiên ngang bất khuất. Huấn Cao tự trọng, không ham quyền và ham lợi: “ta nhất sinh không vi vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu dối bao giờ”. Hơn nữa, ông rất hiên ngang bất khuất: "… Những người chọc trời quấy nước, đến trên dầu người ta, người ta củng chẳng biết có ai nữa…”. Hơn nữa chí lớn không thành, ông vẫn coi thường gian khổ, kể cả cái chết kề bên. Chống lại triều đình, bị bắt giam tử ngục, Huấn Cao vẫn coi thường: “đến cái cánh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa…”.

Ông cũng có những suy nghĩ, hành vi thật phóng khoáng: ông Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu thịt của viên quản ngục, coi như đó là một việc cần làm trong cái hứng sinh bình dù đang bị giam cầm. Chính vì là người tự trọng sống hiên ngang, bất khuất, không sợ điều gì ngay cả cái chết nên huấn cao rất khinh bỉ những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị. Dưới mắt ông, chúng chỉ là lũ tiểu nhân thị oai, nên ông luôn tỏ ra khinh bỉ chúng, dù ở giữa cảnh tàn nhẫn, lừa lọc, giữa một đống cặn bã. Thái độ và ngôn ngữ nhân vật cực kì khinh bạc. Chẳng hạn, sau khi viên quản ngục khép nép hỏi Huấn Cao có cần gì nữa không, ông đã trả lời như tát nước vào mặt đôi phương: “ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chi cần có một diều, là nhà ngươi dừng dặt chân vào dây”. Khí phách đó, tư thê đó luôn luôn hiên ngang lồng lộng giữa cái nền xám xịt của ngục tù.

Loading...

Ngoài khí tiết như đã trình bày ta còn thấy ở nhân vật huấn cao hình ảnh một con người mang sắc đẹp của tâm hồn cao quý, rất mực tài hoa. Huấn cao ca ngợi thiên lương chính là cái bản chất tốt đẹp của con người: “tôi bảo thật dấy, thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở dã… Ở dáy, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi củng nhem nhuốc mất cả dời lương thiện đi”. Lời khuyên bảo cuối cùng đối với viên quản ngục thể hiện “cái tâm” của nhân vật huấn cao vậy.

Bằng một số chi tiết rất tiêu biểu, nguyễn tuân cho ta thấy Huấn Cao vốn là người rất mực tài hoa. Thư pháp (phép viết chữ, nghệ thuật viết chữ hán) vốn là một thú cao nhã của người xưa, bên cạnh cầm, kì, thi, họa. Ông huấn có tài viết chữ đẹp, “vùng tỉnh sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh rất dẹp chữ ông huấn cao dẹp lấm, vuông lắm”. Cái tài hoa ấy ông chỉ dành riêng cho người tri kỉ: “dời ta củng mới viết có hai hộ tứ bình và một bức trung dường cho ba người bạn của ta thôi”. Và lần này như một lần ngoại lệ, ông cho chữ viên quản ngục, vì “ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi”. Con người ấy đã thực hiện lời hứa với viên quản ngục, thể hiện cái tài hoa tuyệt thế của mình trong một khung cảnh đầy xúc động.

Bằng biện pháp đôi lập, nguyễn tuân đã làm toát lên chủ đề của truyện trong đoạn cuối. Cái cao đẹp (viết chữ vốn là một việc thanh cao, long trọng, với lụa trắng, mực thơm, nét chữ vuông tươi tắn) đôi lập với cái dơ bân (cảnh buồng nhà ngục tối tăm, chật hẹp, ẩm ướt, tường dầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián). Hình ảnh kì vĩ của người tù cổ deo gông, chân vướng xiềng dang dậm tô nét chữ đôi lập với hình ảnh co ro của thầy thơ lại run run bưng chậu mực và của viên quản ngục khúm núm cất những đồng tiền kẽm dánh dấu ô chữ (…), chắp tay vái người tù một vái. Tất cả thể hiện một ý nghĩa sâu sắc: cái đẹp có thể sản sinh từ nơi tội ác ngự trị, giữa mảnh đất chết (nhà ngục), bởi một con người tử tội sắp chết (tử tội huấn cao). Và lời khuycn viên quản ngục cũng mang ý nghĩa bô sung: cái đẹp không thể cùng sông chung với tội ác.

Qua những đoạn phân tích trên, ta thây rõ hình tượng cao đẹp của nhân vật. Hình ảnh nhân vật Huấn Cao trong chữ người tử tù tượng trưng cho cái đẹp tài hoa hòa hợp cùng cái đẹp của khí phách, tâm hồn. Nhân vật Huấn Cao cũng như nhiều nhân vật khác trong vang bóng một thời, nhất thiết là một con người tài hoa. Song ở Huấn Cao, bên cạnh cái tài hoa, còn có vẻ đẹp khí phách của một con người có trách nhiệm đối với thời cuộc. Đó cũng là nét độc đáo của hình tượng nhân vật huấn cao so với các nhân vật khác trong vang bóng một thời.

Chữ người tử tù thật sự biểu lộ phong cách nghệ thuật độc dáo của nguyễn tuân. Đó là phong cách nghệ thuật mang tính cố kính qua hệ thống ngôn ngữ, lối suy nghĩ, cung cách đôi xử.., toát lên không khí của một thời nay đã thành vang bóng. Nghệ thuật ấy cũng mang tính hiện đại với những đoạn phân tích những ý sáu kín, diễn biến tâm lí nhân vật một cách tinh tế. Tác phẩm chứng tỏ cây bút nguyễn tuân già dặn, tầm hiểu biết sâu rộng, sắc sảo. Nhân vật huấn cao hiện lên trong truyện với một tôn sùng của Nguyễn Tuân trong hoàn cảnh đất nước bị nô lộ. Đây là sự giãi bày kín đáo niềm "… Khát khao theo đuổi một lí tưởng cao cả củaa người thanh niên Nguyễn Tuân khi mới bước chân vào đời” (Trường Chinh).

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 3

Nhà văn Pauxtopki từng khẳng định: “Nhà văn là người dẫn đường đến xứ xở của cái đẹp. Bước vào thế giới văn chương nghệ thuật là bước vào thế giới của cái đẹp”. Tuy nhiên mỗi nhà văn lại có một lí tưởng riêng. Nếu Thạch Lam đưa người đọc đến với thế giới cái đẹp dịu dàng, êm đềm mà u buồn, man mác thì Nguyễn Tuân – người nghệ sĩ tận hiến suốt đời cho cái đẹp lại dẫn ta đến thế giới thanh cao, sang trọng, lịch lãm mà cổ kính. Trong thế giới nghệ thuật độc đáo ấy của Nguyễn Tuân nổi bật lên hình tường Huấn Cao – nhân vật chính của “Chữ người tử tù”, một nét son chói lọi trong văn nghiệp của Nguyễn Tuân

Là một người nghệ sĩ coi cái đẹp là một tôn giáo, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, trước Cách mạng, bất mãn xã hội Tây tàu nhặng xị, Nguyễn Tuân trở về quá khúe kiếm tìm, nâng niu nhữnng vẻ đẹp còn vương xót lại. Trong hành trình đi tìm kiếm cái đẹp “Vang bóng một thời”, Nguyễn Tuân chợt phát hiện ra không gì đẹp bằng những con người tài hoa tài tử. Nổi bật trong lớp người tài hoa ấy là danh sĩ Cao Bá Quát, một nhà Nho uyên bác, một nhà thơ lớn của dân tộc, một nhà thư Pháp kiệt xuất. Dựa trên nguyên mẫu về danh sĩ Cao Bá Quát, Nguyễn Tuân đã sáng tạo nên hình tượng Huấn Cao – một nhân vật đẹp và sang nhất trong cuộc đời Nguyễn Tuân. Không chỉ là người nghệ sĩ tài hoa, tài tử, Huấn Cao còn là một đấng anh hùng. Ở Huấn Cao có sự kết hợp tuyệt vời giữa vẻ đẹp của tâm hồn nghệ sĩ và khí phách của trang anh hùng hào kiệt.

Nghệ thuật thư pháp là một bộ môn nghệ thuật cổ xưa. Một nghệ sĩ thư pháp đòi hỏi một tay bút tài hoa điêu luyện, với những nét chữ rồng bay phượng múa, một học vấn uyên thâm, một cốt cách thanh cao. Với những đòi hỏi khắt khe như thế, thật ít nghệ sĩ dám theo đuổi bộ môn nghệ thuật thư pháp cao siêu. Thế mà Huấn Cao dám dấn thâm và tận hiến đời mình cho nghệ thuật thư pháp và trở thành người nghệ sĩ tài hoa tột bậc. Huấn Cao có tài viết chữ nhanh, đẹp, vuông. Hơn thế nữa, mỗi con chứa đựng cả hoài bão khát vọng của người nghệ sĩ. Danh tiếng của Huấn Cao lan truyền đến chốn ngục tù khiến cho những kẻ suốt đời tưởng chỉ biết đến đòn roi đánh đập, hành hạ, tra tấn cũng phải ngưỡng mộ. Đặc biệt đối với quản ngục. Ngay từ nghi đọc vỡ sách thánh hiền, ngục quan đã ấp ủ được treo ở nhà riêng đôi câu đối do tay Huấn Cao viết. Vì ngưỡng mộ tài năng, sùng kính nhân cách của ông Huấn, quản ngụ đã có lối ứng xủa lạ lùng chưa từng thấy đối với kẻ từ tù. Không chỉ tỏ thái độ kiêng nể kính trọng, ngục quan còn sẵn sàng hi sinh tất cả những gì vốn được coi là quý báu. Có được chữ của ông Huấn, quản ngụ vô cùng hạnh phúc, cảm động cung kính vái lạy người tử tù trong dòng nước mắt ngọt ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Vẫn biết những tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn có khả năng thanh lọc tâm hồn, cảm hóa con người nhưng thực sự hiếm có tác phẩm nào có sức cảm hóa mạnh mẽ diệu kì, lạ lùng chưa từng thấy như những con chữ viết của Huấn Cao.

Là người nghệ sĩ tài hoa tột bậc, đồng thời Huấn Cao còn là người anh hùng có khí phách phi thường. Nếu vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ Huấn Cao được miêu tả gián tiếp thì khí phách hiên ngang bất khuất được miêu tả trực tiếp qua hành động, ngôn ngữ. Là một nhà Nho có chí khí, Huấn Cao không chấp nhận cảnh sống cá chậu chim lồng, nhắm mắt làm ngơ trước cảnh đời thối nát để mong vinh thân phì gia. Vì sự công bằng của xã hội, hạnh phúc dân lành, Huấn Cao nổi dậy chống lại triều đình. Sự nghiệp anh hùng không thành, Huấn Cao bị khép vào án tử hình. Trước cái chết cận kề, Huấn Cao không hề hối tiếc hay lo lắng, sợ hãi. Trái lại, Huấn Cao luôn tỏ rõ dũng khí hiên nganh, bất khuất. Bẻ khóa vượt ngục đã trở thành tài của Huấn Cao khiến quản ngục và thầy thơ lại thán phục. Bất cứ lời nói hành động nào của Huấn Cao dường như cũng toát lên khí phách hiên ngang, bất khuất của vị đại trượng phu. Tuy nhiên, nếu phải chọn một hành động điển hình cho khí phách ấy, nhiều người chọn hành động dỗ gông lúc nhập ngục. Đối mặt với bọn tiêu lại giữ tù, cai tù hống hách, bạo ngược, Huấn Cao không hêd khúm núm, sợ sệt như những tù nhân khác. Hành động của Huấn Cao có khác nào một cái tát khinh bỉ vào mặt bọn cai tù cặn bã. Dõi theo hành động, thái độ của Huấn Cao trong nhà giam những ngày cuối cùng, người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chẳng những Huấn Cao thản nhiên nhận rượu thịt – quà biếu của quản ngục coi đó là việc vẫn là trong hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm. Trước cường quyền không lùi bước, trước cái chết không chịu khuất phục, đó là khí phách anh hùng Huấn Cao. Khi thầy thơ lại ngập ngừn báo tin cho ông biết sáng sớm mai ông phải về kinh lãnh án tử hình, không một phút lo âu, không một giây sợ hãi, Huấn Cao đón nhận cái chết bằng nụ cười. Đó là nụ cười ngông ngạo của người sẵn lòng tin “giữ trinh bạch linh hồn trong bụ bẩn”. Không chỉ là người nghệ sĩ tài hoa, Huấn Cao đúng là trang anh hùng có khí phách phi thường.

Nhà văn vĩ đại V.Hugo đã từng nói: “Trước bộ óc vĩ đại ta phải cúi đầu nhưng trước trái tim vĩ đại ta phải quỳ gối”. Học theo tư tưởng của văn hòa Hugo, trước hình tượng Huấn Cao, mỗi người đọc chúng ta ắt phải cúi đầu và quỳ gối. Bởi Huấn Cao không chỉ là một nghệ sĩ tài năng siê biệt, một đấng anh hùng có khí phách phi thường mà ông còn là hiện thiên của nhân cách cao đẹp, thiên lương trong sáng vô ngần. Là một người nghệ sĩ thư pháp tài hoa tột bậc, những con chữ của Huấn Cao là một vật báu đối với bao người. Cả đời, Huấn Cao mới tặng chữ cho ba người. Không mềm lòng trước tiền bạc, quyền uy, trước sau Huấn Cao chỉ trân trọng tình tri âm, tri kỉ. Đến khi hiểu được ước nguyện của quản ngục, Huấn Cao chẳng những cho chữ mà còn mỉm cười mãn nguyện. Quả thật, không hạnh phúc sao được khi giữa thế giới ngục tù, tối tăm, bẩn thỉu ta lại bắt gặp một tấm lòng trong sáng, biết trọng người ngay, biết kính mến khí phách và tài năng. Tuy sẵn lòng cho chữ quản ngục nhưng Huấn Cao vẫn day dứt “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Ở trên đời này, khi mắc lỗi, hầu hết con người ta tìm cách trốn tránh và đổi lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh thế nên hành động ăn năn, hối hận là rất đáng quý chỉ có ở những nhân cách tử tế. Lại day dứt ân hận trước những sai lầm suýt mắc phải, những sai lầm chỉ mình mình biết, mình mình hay, chỉ có ở những nhân cách cao đẹp mới như vậy.

Kết lại truyện “Chữ người tử tù” là cảnh cho chữ – một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Không chỉ vậy, nó còn là bệ phóng hoàn hảo làm nổi hình nổi bật các nhân vật và nổi bật tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Đặc biệt ở cảnh cho chữ, ta thấy tài năng và khí phách của Huấn Cao. Vậy là, bằng tài năng bà tâm huyết, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao, sự hiện thân cho cái đẹp kì diệu cùng hình tượng quản ngục và cảnh cho chữ. Không chỉ “Vang bóng một thời”, mà “Chữ người tử tù” sẽ neo đạu mãi trong tâm hồn người đọc như một dấu son không bao giờ phai.

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 4

“Vang bóng một thời” thực chất là sự nổi loạn của cái tôi tài hoa, khinh bạc chống lại xã hội phàm tục. Qua đó, Nguyễn Tuân đã thể hiện một khía cạnh của văn hóa cổ truyền dân tộc, về những con người tài hoa, nghệ sĩ, đôi chỗ còn thấp thoáng những nhân cách lớn, những khí phách ngang tang như Huấn Cao trong “Chữ người tử tù. Đây, có thể nói, là nhân vật hư cấu tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân trong cái dư âm vòn vang vọng lại của thời phong kiến đã qua. Qua nhân vật này, ông thể hiện gần như trọn vẹn cái tôi của mình. Một anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm, mến mộ nghĩa khí. Cho nên mới nói nhân vật Huấn Cao được xây dựng rất thành công, rất đẹp, rất đặc sắc.

Là một nhà văn học theo “chủ nghĩa xê dịch”, ông coi “đi” là hình thức tốt đẹp nhất của sự thoát li, thoát li khỏi cái gò bó của cuộc sống hàng ngày, đi để “luôn luôn thay đổi thực đơn cho giác quan”, vậy nên những tác phẩm của ông thường mang những tính cách độc đáo, những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, những phong cảnh tuyệt mĩ. Những điều đó đều được kết hợp hài hòa trong truyện ngắn của ông, mà tiêu biểu là tập “Vang bóng một thời”. Được ví như “tờ hoa” của thời đại, những truyện ngắn trong đó mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã, những cách ứng xử giữa người với người đầy lễ nghi nhịp nhàng. Phải nói bút pháp của Nguyễn Tuân đã đạt đến trình độ điêu luyện mới có khả năng truyền tải cho độc giả những thuần phong mĩ tục không mấy gần gũi một cách sinh động, hài hòa nhất.

Huấn Cao, một nhân vật “văn kì thanh bất kiến kì hình”, xuất hiện trong tác phẩm lần đầu tiên qua cuộc đối thoại giữa Viên Quản Ngục và thầy thơ lại: “Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp phải không?”, đúng vậy “chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”. Hay: “ngoài cái tài biết chữ tốt, lại cò có tài bẻ khóa và vượt ngục”, chính điều này cũng làm Viên Quản Ngục e ngại không ít: “Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nỗi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không?”. Chỉ mấy câu nói, chân dung sơ bộ của Huấn Cao đã tạo một ấn tượng nơi người đọc, một con người văn võ toàn tài, một vị anh hùng kết tinh, một đại diện cho cái đẹp. Lúc này đây, từ vài đường họa của Nguyễn Tuân, người đọc đã mường tượng trong đầu một con người hội tụ cả ba phẩm chất nhân, dũng, trí. Song vì sa cơ lỡ vận nên trở thành một tử tù. Dù vậy, nhân cách của ông vẫn không thể nhầm lẫn, đến thầy thơ lại phải thốt lên: “Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc”. Không ai đi khóc người dưng nhưng phải công nhận rằng chính cốt cách ngạo nghễ phi thường và tấm lòng trong sáng biết quý trọng cái đẹp của Huấn Cao đã động được đến tâm của người khác.

Và rồi, Huấn Cao xuất hiện trước cửa đề lao, một tên tù án chém chuẩn bị thụ hình, vậy mà cứ hiên ngang, không chút mảy may run sợ. Hành động dỗ gông đã cho ta thấy được sức mạnh phi thường và ý chí bất khuất của ông: “Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tản đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt”. Một mình ông mà có thể kéo cả năm người thì quả là sức mạnh ít ai sánh bằng. Huấn Cao là một nhà nho, thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng, một lòng một dạ theo triều đình. Nhưng không, Huấn Cao nào chịu vào luồn ra cúi, không chịu sống trong cảnh nhung hoa áo gấm, thà làm giặc triều đình sống theo chính nghĩa mà mình vạch ra. Chí lớn không thành, thân mang tù tội nhưng cảnh đề lao không làm khuất lấp ngạo khí của Huấn Cao, mà qua đó nó còn góp phần làm nổi bậc uy phong, khí thế của ông.

Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ lãnh án. Một tù nhân án chém kề cận mà vẫn khinh bạc đến điều, không màn bận tâm đến những lời dọa nạt, khinh bỉ của bọn lính tốt. Ngay cả với gông xiềng, với cái chết mà thái độ ông vẫn lạnh lùng, dửng dưng thì thật sự là một người anh dũng. “Ông Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm”, thái độ thản nhiên như không của Huấn Cao càng khiến người đọc nể phục. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn tự do về tinh thần, “thân thể ở trong lao, tinh thần ỏ ngoài lao”. Ông điềm tĩnh nhận sự biệt đãi của Quản Ngục như một lẽ thường tình, tự cho mình cái quyền hưởng thụ đó vì đến trên đầu ông còn chẳng biết có ai thì việc gì phải bận tâm đến chút nhục tửu nhỏ nhoi này.

Đáp lại sự biệt đãi thân tình của Viên Quản Ngục vẫn là thái độ lạnh nhạt, thản nhiên, kín đáo bất cần lòng thương hại. Nhưng thái độ đó lại làm ngục quan thêm vài phần kính trọng, đến mức khép nép, khúm núm khi vào buồng giam hỏi sở nguyện của ông Huấn. Song ông chỉ nhận được một câu “bất cận nhân tình” của Huấn Cao: “Ngươi bảo ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Đấy có lẽ là câu nói thị uy nhất mà Huấn Cao đã nói. Ông làm ra khinh bạc đến điều, chờ đợi “những trò tiểu nhân thị oai”. Sự khinh bỉ, mỉa mai không giấu diếm như thể ông muốn đạp lên trên mọi bất công, mọi cái xấu xa đê tiện; đồng thời ném vào mặt xã hội bất lương, lừa dối ấy sự thách thức của mình. Có thể nói ở đoạn này, tính cách quật cường, ngang tàng của Huấn Cao được khắc họa rõ ràng nhất.

Nói thì nói thế nhưng “ngoài việc nghĩ đến chí lớn không thành, ông Huấn Cao còn phải bận tâm nghĩ đến sự tươm tất của quản ngục” khi không chỉ ông mà cả năm người bạn của ông cũng được biệt đãi như thế. Cũng khó thể trách, vì vốn là con người “chọc trời quấy nước”, trải qua bao nhiêu gian truân, Huấn Cao cũng có chút đa nghi khi giữa chốn xô bồ, nhơ nhuốc như lao tù này, lại có một người như Viên Quản Ngục. Biết đâu là sự tính toán, lòng người khó dò. Tuy nhiên, chi tiết này đã cho thấy ở Huấn Cao đã có sự dao động. Ở một góc nào đó trong lòng, ông đã dần thay đổi cách nhìn đối với Viên Quản Ngục hay rộng hơn là đối với thế giới đầy dối lừa này.

Dù là một người khó tính – “tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”, nhưng Huấn Cao tuyệt đối không cố chấp. Nhưng Huấn Cao lại có một quan điểm vô cùng rõ ràng về việc cho chữ: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi”. Qua đó, ta cảm nhận sâu sắc rằng Huấn Cao là một bậc hào kiệt. Quyền thế, vàng ngọc không thể lay chuyển ông nhưng tấm lòng của quản ngục thì được. Lúc này, không còn cái gọi là hai con người ở hai chiến tuyến mà chỉ là hai tâm hồn đồng điều. Giờ đây cái dao động của ông đã hiện thực hóa, ông thực sự coi quản ngục là tri kỉ tâm giao. Con người ông chính trực là thế, khẳng khái là thế. Phải chăng cái chí tung hoành của một đời người đã hun đúc ông thành một con người hào sảng, nghĩa khí, thấu tình đạt lí.

Với quan điểm đó, Huấn Cao đã đồng ý cho chữ: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Khi ông nhận ra tấm lòng cùng sở thích cao quý của quản ngục, ông không còn thái độ thù địch mà còn ân hận vì mình đã “xuýt chút nữa phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Là một trượng phụ đội trời đạp đất, có lẽ với Huấn Cao việc đáng hổ thẹn nhất là phụ lòng người. Ông cho rằng đó là là một việc không thể chấp nhận, không thể tha thứ. Điều này chứng minh rằng Huấn Cao không chỉ văn võ song toàn mà còn là tài tâm vẹn toàn. Ở ông, ta thấy được sự hòa quyện diệu kì của khối óc và trái tim. Điều đó không phải là dâng nộp cái tài của một tên tử tù cho Viên Quản Ngục đang coi giữ mình mà là sự cảm kích trân trọng của người nghệ sĩ đối với kẻ liên tài, là sự đáp lại của một tấm lòng với một tấm lòng.

Trong cảnh buồng giam tối tăm chật hẹp, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có diễn ra: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván”. Với tư thế ung dung, tự tại ấy Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là dòng chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chan chứa tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt của người đọc. Khác với chân dung đầy khí phách lúc đầu, giờ đây một Huấn Cao vẫn bệ vệ, oai phong hiện lên trong tâm trí người đọc nhưng lại lẫn chút bi thương. Một đời tài hoa, lỗi lạc nay lại trong chốn tù ngục mà để lại những nét chữ cuối cùng. Quả là có chút chạnh lòng.

Mặc dù thế, Huấn Cao vẫn thành tâm khuyên nhũ quản ngục: “Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Một lời khuyên có chút khiếm nhã nhưng Huấn Cao lại không câu nệ tiểu tiết mà nói ra, xem chừng ông rất coi trọng Viên Quản Ngục. Chỉ có những người bạn thâm giao mới nói những lời từ tận đáy lòng như thế. Hẳn là sự cảm phục nhân cách cao thượng của quản ngục nên Huấn Cao mới không muốn để cho “người có tâm điền tốt và thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Một phần ông cũng không muốn cái đẹp tồn tại lẫn vào trong cái tạp nham, dơ bẩn của chốn thị phi nên mới khuyên quản ngục tìm về nới làng quê mà ở, tâm tịnh thì mới có thể thưởng thức cái đẹp.

Bằng nghệ thuật dựng cảnh ấn tượng, tình huống truyện độc đáo, Nguyễn Tuân đã tạo nên một không gian cổ kính, lung linh trên từng trang giấy, khiến người đọc ngỡ như chính mình bước vào không gian đó cũng như thế giới nội tâm nhân vật. Huấn Cao được ông xây dựng với sức hấp dẫn người đọc ngay từ đầu, và cứ thế, cuốn hút suốt chiều dài thiên truyện. Đó là sức mạnh nghệ thuật ở một nhân vật có lý tưởng. Cùng với thủ pháp đối lập độc đáo, tác giả đã dựng nên một khung cảnh sống động, chân thực khi sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình. Khả năng hư cấu tài hoa, uyên bác của ông làm người đọc bị cuốn hút vào tác phẩm một cách triệt để nhất.

Qua tác phẩm, Nguyễn Tuân đã truyền tải đến người đọc một quan điểm nghệ thuật hết sức rõ nét: nghệ thuật phải hướng đến cái đẹp mà cái đẹp phải xuất phát từ cái thiện. Đối với ông nghệ thuật chân chính là: chân – thiện – mĩ. Chân là chân thực, cái chân thực đó có lúc lại khiến người khác choáng ngợp, chẳng hạn như một người như quản ngục lại có phẩm chất và sở thích vô cùng thanh cao giữa nơi xô bồ, hỗn loạn như đề lao. Thiện là là lương thiện, văn chương chính là hướng đến cái thiện, có thiên lương thì người ta mới có thể cảm thụ cái hay, cái đẹp. Cuối cùng là mỹ – đẹp, cái đẹp ở đây không nhất thiết lúc nào cũng bóng bẩy, hào hoa như cách Nguyễn Du vẽ Thúy Kiều; đôi lúc những đường nét thô kệch của Thị Nở cũng là một cái đẹp theo cách vẽ gồ ghề của Nam Cao. Và Nguyễn Tuân cho rằng chỉ có sự kết hợp của cả ba yếu tố trên mới thực sự là nghệ thuật, đó là một quan điểm được đánh giá cao.

Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Huấn Cao đã mang đến chốn lao tù, cho cái địa ngục sống này một ánh sáng huyền diệu, lung linh, chói lọi, soi sáng đạo lí làm người. Thiên lương cao đẹp của ông là một vầng hào quang tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời đầy u ám của ngục tù. Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công nhân vật Huấn Cao – một con người tài hoa, có tài tâm trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất. Qua đó, nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín tấm lòng yêu nước. Tác phẩm thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo, trong nghệ thuật dựng cảnh, khắc họa tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng, trong việc sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình.

Vũ Hường tổng hợp

Từ khóa tìm kiếm: